Tổng quan luận án
Công tác khám chữa bệnh theo chính sách Bảo hiểm Y tế (BHYT) tại Việt Nam được triển khai từ năm 1992 nhằm huy động nguồn tài chính phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và nâng cao tính công bằng xã hội trong tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản. Trải qua 19 năm thực thi, số người tham gia BHYT liên tục gia tăng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi tiêu ngân sách dành cho y tế. Quyền lợi của đối tượng thụ hưởng từng bước được củng cố và bảo đảm, tạo điều kiện cho các nhóm đối tượng chính sách, người có công với cách mạng và người nghèo giảm thiểu rủi ro kinh tế khi ốm đau. Tuy nhiên, tại tuyến y tế cơ sở, đặc biệt là các bệnh viện đa khoa tuyến huyện miền núi, việc tổ chức thực hiện chính sách BHYT còn gặp nhiều trở ngại về hạ tầng cơ sở, nguồn nhân lực và phương thức quản lý.
Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang) là bệnh viện đa khoa tuyến huyện hạng III, thực hiện công tác khám chữa bệnh BHYT từ năm 1993. Đơn vị được tách ra từ Trung tâm Y tế huyện Yên Sơn và chính thức đi vào hoạt động độc lập từ tháng 10 năm 2006, có trụ sở đóng trên địa bàn Thành phố Tuyên Quang. Bệnh viện được giao kế hoạch 110 giường bệnh cùng 100 cán bộ định biên. Phần lớn người bệnh có thẻ BHYT đến khám tại bệnh viện được xử trí và cấp thuốc điều trị ngoại trú; nhóm bệnh nhân nội trú sau khi ra viện chưa có hệ thống theo dõi, quản lý tình trạng bệnh tật một cách liên tục. Trước đòi hỏi đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh, giảm thiểu thủ tục phiền hà, hạn chế quá tải cho tuyến trên và nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, luận án tập trung khảo sát thực trạng, nhận diện các khó khăn cản trở và xây dựng hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT tại cơ sở y tế này.
Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số theo văn bản như sau:
- Mô tả thực trạng công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang năm 2010 - 2011.
- Mô tả một số khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Đề xuất các giải pháp để nâng cao chất lượng khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Bệnh viện đa khoa huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Người bệnh có thẻ BHYT đến khám chữa bệnh tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn (phân chia theo các nhóm: BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện, BHYT người nghèo/dân tộc thiểu số, BHYT trẻ em dưới 6 tuổi).
- Cán bộ, nhân viên y tế trực tiếp thực hiện công tác khám chữa bệnh BHYT tại bệnh viện.
- Cán bộ lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo các khoa, phòng chức năng.
- Tài liệu thứ cấp: Hồ sơ bệnh án, báo cáo thống kê định kỳ lưu trữ tại phòng Kế hoạch - Tổng hợp giai đoạn 2010 - 2011; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách của Trung ương, địa phương về BHYT.
- Cơ sở hạ tầng, trang thiết bị y tế phục vụ công tác khám chữa bệnh tại bệnh viện.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
- Thời gian: Thời gian triển khai thu thập số liệu thực địa từ tháng 01/2011 đến tháng 10/2011; kết hợp hồi cứu số liệu hoạt động chuyên môn các năm 2010 và 2011.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các hướng nghiên cứu, cơ sở pháp lý và tổng quan kết quả thực hiện chính sách BHYT tại Việt Nam cũng như trên thế giới qua các tài liệu được trích dẫn:
Về thể chế chính sách BHYT tại Việt Nam:
- Nghị định số 299/HĐBT ngày 15/08/1992 của Hội đồng Bộ trưởng ban hành Điều lệ Bảo hiểm Y tế đầu tiên, xác lập nền tảng pháp lý ban đầu cho hệ thống BHYT Việt Nam.
- Quyết định số 20/2002/QĐ-TTg ngày 24/01/2002 của Thủ tướng Chính phủ chuyển giao hệ thống quản lý BHYT từ Bộ Y tế sang Bảo hiểm Xã hội Việt Nam.
- Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16/05/2005 của Chính phủ ban hành Điều lệ BHYT mới, mở rộng quyền lợi: bãi bỏ quy định cùng chi trả 20%, xóa trần thanh toán điều trị nội trú, bổ sung gần 1.000 dịch vụ kỹ thuật cao, chi phí lớn, bệnh bẩm sinh, tai nạn giao thông và chi phí vận chuyển.
- Thông tư liên tịch số 21/2005/TTLT-BYT-BTC (27/07/2005), Thông tư liên tịch số 22/2005/TTLT-BYT-BTC (24/08/2005), Thông tư liên tịch số 06/2007/TTLT-BYT-BTC (30/03/2007) và Thông tư liên tịch số 14/2007/TTLT-BYT-BTC (10/12/2007) của Bộ Y tế và Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện và điều chỉnh mức đóng, phương thức cùng chi trả.
- Luật Bảo hiểm Y tế được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 14/11/2008 (hiệu lực từ 01/07/2009), đặt mốc chậm nhất ngày 01/01/2014 thực hiện BHYT toàn dân; tiếp đó là Nghị định số 62/2009/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật với 5 nhóm đối tượng và 31 mã quản lý, xác định mức đóng BHYT bằng 4,5% mức lương tối thiểu chung.
| Năm |
Số thu (tỷ đồng) |
Số người tham gia (triệu người) |
Tỷ lệ bao phủ (% dân số) |
Số lượt KCB (triệu lượt) |
Chi phí KCB (tỷ đồng) |
| 1993 |
111 |
3,79 |
5,3% |
2,2 |
49 |
| 1997 |
540 |
9,50 |
12,5% |
14,0 |
480 |
| 2002 |
1.513 |
12,50 |
15,6% |
19,7 |
1.900 |
| 2007 |
- |
37,80 |
42,0% |
83,2 |
19.800 |
| 2010 |
- |
50,80 |
60,0% |
106,0 |
- |
Nguồn tổng hợp từ văn bản luận án [9, 25, 27, 45]
Về kinh nghiệm quốc tế:
- Thái Lan: Mô hình trung tâm chăm sóc sức khỏe ban đầu tại làng bản sử dụng ngân sách từ nhiều quỹ, trong đó quỹ BHYT chiếm 13,5% - 20%, chi trả cho cả khám chữa bệnh và y tế dự phòng (tiêm chủng mở rộng, giám sát môi trường) [37].
- Hoa Kỳ: Hệ thống Medicare và các quỹ BHYT tư nhân; bác sĩ đa khoa đảm nhiệm vai trò người gác cổng (gatekeeper) quản lý sức khỏe ban đầu [35, 59].
- Trung Quốc: Mô hình BHYT nông dân ở cấp hợp tác xã xã quản lý; người dân đóng 1 - 2 Nhân dân tệ/tháng, hợp tác xã hỗ trợ gấp 3 lần [40, 48, 53].
- Indonesia: Quỹ BHYT nông dân DANASEHAT cấp xã phục vụ ngoại trú tại trạm y tế (mức đóng 40 - 50 Rubi năm 1984) [52].
- Anh quốc: Bệnh nhân BHYT sau phẫu thuật ngoại khoa được nhân viên y tế cộng đồng chăm sóc tại nhà [5].
- CHLB Đức: Phát triển dịch vụ chăm sóc tại nhà thông qua quỹ BHYT với mức đóng 1% lương [44, 1].
Về thực trạng khám chữa bệnh và hệ thống y tế trong nước:
- Tiêu chuẩn chất lượng bệnh viện căn cứ Quyết định 1895/1997/BYT-QĐ (Quy chế bệnh viện với 7 nhiệm vụ chuyên môn) và Quyết định số 3125/QĐ-BYT ngày 27/8/2010 của Bộ Y tế (Bảng kiểm tra Bệnh viện năm 2010).
- Quy mô hệ thống: Cả nước có 1.772 cơ sở điều trị, bệnh viện quy mô dưới 100 giường chiếm gần 70% (570 cơ sở), quy mô 101 - 300 giường chiếm 20% (165 cơ sở), trên 700 giường chỉ chiếm khoảng 1% (8 bệnh viện). Tỷ lệ bệnh viện và giường bệnh tư nhân ở Việt Nam còn thấp so với các nước ASEAN (Thái Lan 30% và 22,5%; Indonesia 42% và 32%; Malaysia 62,4% và 164,4%; Philippines 67% và 50%) [43].
- Thực trạng tỉnh Tuyên Quang năm 2010: Báo cáo Sở Y tế Tuyên Quang ghi nhận tổng số giường bệnh toàn tỉnh là 2.115 giường (tuyến huyện/thành phố là 580 giường); lượt khám đạt 119,6% kế hoạch; bệnh nhân nội trú đạt 54.850 người (155,8% kế hoạch); công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện đạt 141% dẫn đến quá tải trầm trọng tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện như Yên Sơn, Hàm Yên [50]. Khảo sát của Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Tuyên Quang cho thấy 65% người dân không hài lòng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và 82% phàn nàn về thời gian chờ đợi, thủ tục rườm rà.
- Năng lực quản trị: Nghiên cứu năm 1999 về cán bộ quản lý y tế bệnh viện tuyến huyện tại Việt Nam chỉ ra 41,1% mô tả được các bước quản lý cơ bản; 34,8% có kỹ năng lập kế hoạch; 89,2% chưa qua đào tạo quản lý bệnh viện; tỷ lệ biết rõ 7 nhiệm vụ bệnh viện chỉ đạt 45% [43]. Tỷ số điều dưỡng/bác sĩ trung bình toàn quốc là 1,5 (bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế là 1,22; bệnh viện tỉnh là 1,56), chưa đạt chỉ tiêu tối thiểu 2,5 theo định hướng chăm sóc toàn diện của Bộ Y tế.
| STT |
Chỉ tiêu khám chữa bệnh |
Đơn vị tính |
Kế hoạch 2010 |
Kết quả thực hiện 2010 |
% Kế hoạch |
So sánh cùng kỳ 2009 |
| 1 |
Tổng số giường bệnh |
Giường |
2.115 |
2.115 |
100,0% |
Tăng 1,68% |
| - |
Tuyến huyện / Thành phố |
Giường |
580 |
580 |
100,0% |
- |
| 2 |
Số lượt khám bệnh |
Lượt |
- |
1.558 |
119,6% |
Tăng 11,1% |
| 3 |
Bệnh nhân điều trị nội trú |
Người |
- |
54.850 |
155,8% |
Tăng 11,4% |
| 4 |
Bệnh nhân điều trị ngoại trú |
Người |
17.200 |
- |
- |
- |
| - |
Tuyến huyện / Thành phố |
Người |
6.150 |
6.260 |
101,7% |
Tăng 187,8% |
| 5 |
Công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện |
% |
- |
141,0% |
- |
Tăng 11,48% |
Nguồn: Sở Y tế Tuyên Quang - Báo cáo tổng kết năm 2010 [50]
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có các nghiên cứu đánh giá BHYT cấp vĩ mô, nhưng dữ liệu thực chứng đánh giá chi tiết chất lượng phục vụ, mức độ hài lòng của từng nhóm đối tượng người bệnh (bắt buộc, tự nguyện, người nghèo, trẻ em) và những vướng mắc vận hành cụ thể tại một bệnh viện huyện hạng III miền núi như Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn còn thiếu vắng. Luận án giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc cải tiến quản lý khám chữa bệnh BHYT tại địa phương.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
Nghiên cứu vận dụng khung pháp lý của Luật Bảo hiểm Y tế (2008), Nghị định 62/2009/NĐ-CP và tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện ban hành theo Quyết định số 3125/QĐ-BYT ngày 27/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế. Khung đánh giá chất lượng khám chữa bệnh BHYT được thiết kế dựa trên 5 nhóm yếu tố đo lường sự hài lòng của người bệnh:
- Thời gian tiếp cận dịch vụ y tế (chờ đợi khám, xét nghiệm, nhận thuốc).
- Giao tiếp và tương tác với nhân viên y tế (điều dưỡng, kỹ thuật viên).
- Giao tiếp với bác sĩ về tinh thần, thái độ khám chữa bệnh.
- Điều kiện cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế.
- Kết quả khám và điều trị bệnh nhân BHYT.
Thiết kế và phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng thiết kế nghiên cứu mô tả điều tra cắt ngang, kết hợp phương pháp định lượng và định tính, phối hợp thu thập dữ liệu hồi cứu và tiến cứu.
Phương pháp chọn mẫu
- Cỡ mẫu định lượng: Tính theo công thức ước tính một tỷ lệ trong quần thể:
$$n = Z^2_{1-\alpha/2} \frac{p(1-p)}{d^2}$$
Trong đó: $Z_{1-\alpha/2} = 1,96$ (độ tin cậy 95%); sai số tuyệt đối cho phép $d = 0,05$; do chưa có số liệu nghiên cứu trước tại địa bàn nên lấy $p = 0,5 \Rightarrow q = 0,5$.
$$n = 1,96^2 \times \frac{0,5 \times 0,5}{0,05^2} = 384,16 \approx 384 \text{ người}$$
Cỡ mẫu thực tế được làm tròn thành 400 bệnh nhân có thẻ BHYT điều trị nội trú chuẩn bị xuất viện.
- Kỹ thuật chọn mẫu định lượng: Chọn chủ đích Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn. Tại các khoa lâm sàng (Hồi sức cấp cứu, Nội nhi, Ngoại sản, Đông y), chọn mẫu ngẫu nhiên đơn toàn bộ bệnh nhân ra viện cho đến khi đủ số lượng phân bổ đều cho 4 nhóm đối tượng:
- Nhóm BHYT bắt buộc: 100 bệnh nhân (cán bộ, công nhân viên chức, công nhân lao động, đối tượng chính sách, học sinh).
- Nhóm BHYT người nghèo: 100 bệnh nhân (người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số).
- Nhóm BHYT trẻ em dưới 6 tuổi: 100 bệnh nhi (phỏng vấn bố, mẹ hoặc người trực tiếp chăm sóc trẻ).
- Nhóm BHYT tự nguyện: 100 bệnh nhân.
- Cỡ mẫu và kỹ thuật chọn mẫu định tính:
- Thảo luận nhóm tập trung người bệnh: Chọn 15 người bệnh KCB BHYT chuẩn bị ra viện.
- Phỏng vấn sâu nhóm cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh: 15 người (6 bác sĩ, 5 điều dưỡng, 4 cán bộ giám định BHYT).
- Phỏng vấn sâu nhóm nhà quản lý: 15 người (5 cán bộ lãnh đạo bệnh viện, 10 cán bộ lãnh đạo khoa/phòng).
| Nhóm đối tượng khảo sát |
Phương pháp nghiên cứu |
Cỡ mẫu ($n$) |
Tiêu chí phân bổ / Cơ cấu |
| BHYT bắt buộc |
Định lượng |
100 |
Cán bộ, công nhân viên chức, công nhân, học sinh |
| BHYT người nghèo |
Định lượng |
100 |
Người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số |
| BHYT trẻ em dưới 6 tuổi |
Định lượng |
100 |
Bệnh nhi (phỏng vấn người chăm sóc) |
| BHYT tự nguyện |
Định lượng |
100 |
Các đối tượng tham gia tự nguyện |
| Tổng mẫu định lượng |
Khảo sát cấu trúc |
400 |
Bệnh nhân nội trú chuẩn bị xuất viện |
| Người bệnh hưởng lợi |
Định tính |
15 |
Thảo luận nhóm tập trung bệnh nhân BHYT ra viện |
| Cán bộ cung ứng dịch vụ |
Định tính |
15 |
Phỏng vấn sâu (6 bác sĩ, 5 điều dưỡng, 4 giám định viên) |
| Cán bộ quản lý bệnh viện |
Định tính |
15 |
Phỏng vấn sâu (5 lãnh đạo BV, 10 lãnh đạo khoa/phòng) |
| Tổng mẫu định tính |
Phỏng vấn / Thảo luận |
45 |
Cán bộ quản lý, nhân viên y tế và người bệnh |
Công cụ thu thập và xử lý số liệu
- Công cụ: Bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ (1: Rất không hài lòng; 2: Không hài lòng; 3: Bình thường; 4: Hài lòng; 5: Rất hài lòng); bảng kiểm quan sát hạ tầng, trang thiết bị; khung hướng dẫn thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu. Bộ câu hỏi được thử nghiệm trước trên 10 bệnh nhân tại bệnh viện để chỉnh sửa hoàn thiện.
- Xử lý số liệu: Số liệu được nhập và làm sạch bằng máy vi tính, xử lý phân tích bằng phần mềm EPI-INFO 6. Sử dụng các thuật toán thống kê y học gồm kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$-test) cho các biến định tính và kiểm định $t$-test để so sánh hai giá trị trung bình.
- Đạo đức nghiên cứu: Đối tượng tham gia hoàn toàn tự nguyện, có quyền từ chối hoặc rút lui; nghiên cứu được sự phê duyệt, ủng hộ của lãnh đạo bệnh viện và không can thiệp gây ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh.
Nội dung chính theo từng chương
Đặt vấn đề
Chương này phân tích vai trò chiến lược của chính sách BHYT trong an sinh xã hội tại Việt Nam từ năm 1992. Tác giả nêu bật bối cảnh đặc thù của Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn - một cơ sở y tế tuyến huyện hạng III miền núi, thực hiện KCB BHYT từ năm 1993, cơ sở vật chất chật hẹp, biên chế được giao 100 cán bộ phụ trách 110 giường bệnh. Luận án chỉ ra tính cấp thiết của việc đánh giá toàn diện công tác khám chữa bệnh BHYT, nhận diện các rào cản và đề xuất giải pháp khả thi thông qua 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể.
Tổng quan tài liệu
Chương tổng quan tập trung hệ thống hóa 4 nội dung lớn:
- Khái niệm, nguyên tắc hoạt động của 2 loại hình BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện; các mốc chính sách quan trọng từ Nghị định 299/HĐBT, Quyết định 20/2002/QĐ-TTg, Nghị định 63/2005/NĐ-CP đến Luật BHYT 2008 và Nghị định 62/2009/NĐ-CP.
- Kinh nghiệm quốc tế về tổ chức KCB BHYT tại y tế cơ sở ở Thái Lan, Hoa Kỳ, Tây Âu, Trung Quốc, Indonesia, Hàn Quốc, Triều Tiên và CHLB Đức.
- Thực trạng hệ thống bệnh viện Việt Nam và kết quả thực hiện KCB tại tỉnh Tuyên Quang năm 2010; phân tích các số liệu về mạng lưới y tế quy mô nhỏ (gần 70% bệnh viện dưới 100 giường), thiếu hụt điều dưỡng (tỷ số điều dưỡng/bác sĩ đạt 1,5), công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện Tuyên Quang năm 2010 quá tải ở mức 141%.
- Các rào cản phát triển BHYT: Chênh lệch phát triển kinh tế - xã hội miền núi (tỷ lệ nghèo ở dân tộc thiểu số là 75,3%, chỉ số HDI tỉnh Hà Giang xếp 60/61, Lào Cai xếp 56/61 năm 2001); mô hình bệnh tật kép (bệnh nhiễm trùng suy dinh dưỡng kết hợp bệnh không lây nhiễm như tim mạch, ung thư, tiểu đường, tai nạn thương tích); mạng lưới y tế xã thiếu bác sĩ (năm 2004 mới có 39,99% số xã có bác sĩ); hạn chế về năng lực quản lý bệnh viện tuyến huyện (năm 1999 có 89,2% cán bộ quản lý chưa được đào tạo chuyên môn quản lý) và những khó khăn trong mở rộng BHYT học sinh (hơn 10 triệu học sinh chưa tham gia trên toàn quốc).
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết phương pháp luận nghiên cứu:
- Thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp định lượng và định tính, thu thập dữ liệu hồi cứu 2010 - 2011 và điều tra thực địa năm 2011.
- Quy trình xác định cỡ mẫu 400 bệnh nhân BHYT nội trú xuất viện bằng công thức ước tính một tỷ lệ và phân bổ đều 100 người cho 4 nhóm (bắt buộc, người nghèo, trẻ dưới 6 tuổi, tự nguyện); phương pháp lấy mẫu định tính 45 người gồm người bệnh, nhân viên y tế, cán bộ giám định và lãnh đạo bệnh viện.
- Thiết kế công cụ bảng hỏi thang đo Likert 5 mức độ trên 5 nhóm yếu tố chất lượng, bảng kiểm cơ sở vật chất trang thiết bị; kỹ thuật nhập liệu, xử lý bằng phần mềm EPI-INFO 6 qua các kiểm định $\chi^2$ và $t$-test, cùng quy trình khống chế sai số và y đức nghiên cứu.
Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Nội dung chương này được tác giả cấu trúc xoay quanh 3 nhóm vấn đề trọng tâm tương ứng với 3 mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá thực trạng công tác KCB BHYT: Phân tích các chỉ số phát triển số người tham gia BHYT bắt buộc và tự nguyện do bệnh viện quản lý; tổng hợp số lượt khám bệnh, ngày điều trị nội trú trung bình, chi phí trung bình một đợt khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú; đo lường mức độ hài lòng của người bệnh theo 5 nhóm yếu tố (thời gian tiếp cận, giao tiếp điều dưỡng, giao tiếp bác sĩ, cơ sở vật chất, kết quả điều trị) và so sánh giữa 4 nhóm đối tượng người bệnh.
- Nhận diện các khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động KCB BHYT: Phân tích khó khăn về nguồn nhân lực (thiếu hụt điều dưỡng, năng lực quản lý, trình độ tin học và ngoại ngữ hạn chế); thiếu thốn cơ sở hạ tầng, trang thiết bị chẩn đoán; bất cập từ cơ chế khoán quỹ định suất, giám định thanh toán BHYT; khó khăn kinh tế - xã hội đặc thù của địa bàn miền núi với tỷ lệ hộ nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số cao, nhận thức về quyền lợi BHYT còn hạn chế.
- Cơ sở khoa học đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp: Luận giải các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và y đức; cải tiến quy trình hành chính khám chữa bệnh một chiều; hoàn thiện công tác quản lý tài chính bệnh viện theo Nghị định 43/NĐ-CP và tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành Y tế - Bảo hiểm xã hội.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn
- Luận án cung cấp bức tranh thực nghiệm toàn diện về mô hình tổ chức, vận hành và chất lượng công tác khám chữa bệnh BHYT tại một bệnh viện đa khoa tuyến huyện hạng III thuộc tỉnh miền núi (Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn, Tuyên Quang) trong giai đoạn đầu thực thi Luật BHYT 2008.
- Xây dựng và áp dụng bộ công cụ đo lường mức độ hài lòng của người bệnh có thẻ BHYT tuyến huyện dựa trên thang đo chuẩn hóa 5 thành tố (thời gian tiếp cận, giao tiếp nhân viên y tế, giao tiếp bác sĩ, cơ sở vật chất, kết quả điều trị), so sánh sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 4 nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách.
- Nhận diện cụ thể các nút thắt cản trở chất lượng KCB tại cơ sở y tế tuyến huyện: Tình trạng quá tải giường bệnh (công suất đạt 141%); bất cập về cơ cấu nhân lực y tế (thiếu điều dưỡng, tỷ số điều dưỡng/bác sĩ chỉ đạt 1,5); hạn chế về kỹ năng quản trị bệnh viện (89,2% cán bộ quản lý tuyến huyện chưa qua đào tạo quản lý); các rào cản kinh tế - văn hóa của người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số trong tiếp cận dịch vụ y tế.
Các kiến nghị và giải pháp đề xuất
Luận án đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT trên 4 phương diện:
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và y đức: Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng lâm sàng cho bác sĩ; bổ sung biên chế điều dưỡng để bảo đảm tỷ số điều dưỡng/bác sĩ hướng tới chuẩn tối thiểu 2,5; tăng cường bồi dưỡng y đức, văn hóa giao tiếp ứng xử, chống sách nhiễu và nâng cao tinh thần phục vụ người bệnh.
- Nâng cao năng lực quản lý và tổ chức quy trình KCB: Đào tạo kỹ năng lập kế hoạch, quản lý kinh tế y tế cho đội ngũ lãnh đạo bệnh viện và các khoa/phòng; tổ chức lại quy trình tiếp đón và khám bệnh theo nguyên tắc "một chiều" khép kín (từ tiếp nhận thẻ, khám bệnh, xét nghiệm, lĩnh thuốc đến xuất viện) nhằm xóa bỏ tình trạng ùn tắc, rút ngắn thời gian chờ đợi của người bệnh.
- Cải thiện cơ sở vật chất và quản lý tài chính: Khai thác và bảo dưỡng hiệu quả trang thiết bị y tế hiện có; quản lý minh bạch các nguồn thu (ngân sách nhà nước, viện phí, BHYT) theo cơ chế tự chủ tài chính quy định tại Nghị định số 43/NĐ-CP; phối hợp chặt chẽ với cơ quan Bảo hiểm xã hội trong công tác giám định, thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh đúng quy định.
- Giải pháp kinh tế - văn hóa - xã hội: Tăng cường công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe tại cộng đồng và trường học nhằm nâng cao nhận thức của nhân dân về quyền lợi và trách nhiệm tham gia BHYT, đặc biệt là nhóm đối tượng BHYT học sinh và hộ gia đình cận nghèo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Phạm vi khảo sát thực nghiệm tập trung tại một cơ sở điều trị duy nhất là Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn (tỉnh Tuyên Quang), do đó tính đại diện để khái quát hóa cho toàn bộ hệ thống bệnh viện tuyến huyện trên cả nước có sự giới hạn.
- Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang thu thập số liệu trong năm 2011, chưa triển khai được các can thiệp thực địa theo dõi dọc để đánh giá hiệu quả định lượng sau khi áp dụng các giải pháp đề xuất.
- Do điều kiện nguồn vốn đầu tư công, nghiên cứu không can thiệp sâu vào việc mở rộng quy mô hạ tầng xây dựng bệnh viện (vốn phụ thuộc vào các dự án trái phiếu Chính phủ giai đoạn 2010 - 2015).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chứng giữa nhiều bệnh viện đa khoa tuyến huyện ở các vùng sinh thái, kinh tế - xã hội khác nhau.
- Thiết kế các nghiên cứu can thiệp thử nghiệm mô hình quản lý một cửa, quy trình KCB một chiều và các chương trình bồi dưỡng năng lực quản trị bệnh viện để đo lường mức độ cải thiện sự hài lòng của người bệnh theo thời gian.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn thiết thực cho các nhóm đối tượng:
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên chuyên khoa ngành Y tế công cộng, Quản lý bệnh viện, Tổ chức y tế: Tham khảo khung thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng ($n=400$, xử lý bằng EPI-INFO 6, kiểm định $\chi^2$, $t$-test) và định tính ($n=45$), bộ công cụ đánh giá sự hài lòng của người bệnh theo thang đo Likert 5 mức độ và hệ thống dữ liệu phát triển BHYT Việt Nam giai đoạn 1993 - 2010.
- Ban Giám đốc và cán bộ quản lý tại các bệnh viện đa khoa tuyến huyện miền núi: Ứng dụng các đề xuất về cải tiến quy trình tiếp đón khám chữa bệnh một chiều, biện pháp quản lý nhân lực, tổ chức đào tạo y đức và quản trị tài chính bệnh viện theo Nghị định 43/NĐ-CP.
- Cơ quan Bảo hiểm xã hội và cơ quan quản lý y tế địa phương (Sở Y tế): Sử dụng dữ liệu thực trạng để hoàn thiện quy chế phối hợp giám định chi phí khám chữa bệnh BHYT, tháo gỡ vướng mắc trong phân bổ quỹ định suất và quản lý bệnh nhân chuyển tuyến.
Câu hỏi thường gặp
-
Ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể của luận án là gì?
Trả lời: Luận án xác định 3 mục tiêu: (1) Mô tả thực trạng công tác khám chữa bệnh BHYT tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn năm 2010 - 2011; (2) Mô tả một số khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động khám chữa bệnh BHYT tại bệnh viện; (3) Đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh BHYT tại bệnh viện.
-
Quy mô và cơ cấu mẫu điều tra định lượng được thiết kế như thế nào?
Trả lời: Mẫu định lượng gồm 400 bệnh nhân có thẻ BHYT điều trị nội trú chuẩn bị xuất viện (tính từ công thức cỡ mẫu ước tính một tỷ lệ $n=384$, làm tròn 400). Mẫu được phân bổ ngẫu nhiên đơn thành 4 nhóm đối tượng bằng nhau (100 người/nhóm): BHYT bắt buộc, BHYT người nghèo/dân tộc thiểu số, BHYT trẻ em dưới 6 tuổi (hỏi người chăm sóc) và BHYT tự nguyện.
-
Luận án chỉ ra những bất cập nào về nguồn nhân lực y tế tuyến cơ sở?
Trả lời: Luận án ghi nhận số cán bộ/giường bệnh tại tuyến huyện là 1,09 (thấp hơn tuyến trung ương 1,38 và tuyến tỉnh 1,13); tỷ số điều dưỡng/bác sĩ trung bình chỉ đạt 1,5 (chưa đạt mục tiêu chiến lược tối thiểu 2,5 của Bộ Y tế); 89,2% cán bộ quản lý bệnh viện tuyến huyện chưa qua đào tạo chuyên môn về quản lý bệnh viện.
-
Tình trạng sử dụng giường bệnh tại các bệnh viện tuyến huyện tỉnh Tuyên Quang năm 2010 diễn ra như thế nào?
Trả lời: Theo báo cáo tổng kết năm 2010 của Sở Y tế Tuyên Quang, công suất sử dụng giường bệnh tuyến huyện/thành phố đạt 141% (tăng 11,48% so với năm 2009), dẫn đến tình trạng quá tải nghiêm trọng tại các cơ sở như Bệnh viện Đa khoa tỉnh, Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn và Hàm Yên.
-
Bộ công cụ và phần mềm thống kê nào được sử dụng để phân tích dữ liệu?
Trả lời: Luận án sử dụng bộ câu hỏi phỏng vấn cấu trúc đo lường bằng thang đo Likert 5 mức độ (trên 5 nhóm yếu tố chất lượng), bảng kiểm quan sát cơ sở vật chất và khung thảo luận nhóm. Số liệu được xử lý bằng phần mềm EPI-INFO 6, áp dụng các thuật toán thống kê y học gồm kiểm định Chi bình phương ($\chi^2$-test) và kiểm định $t$-test.
Kết luận
Luận án Chuyên khoa cấp II chuyên ngành Y tế công cộng của tác giả Hoàng Thanh Cảnh đã phản ánh toàn diện thực trạng công tác khám chữa bệnh BHYT tại Bệnh viện Đa khoa huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang giai đoạn 2010 - 2011. Bằng phương pháp nghiên cứu kết hợp định lượng ($n=400$) và định tính ($n=45$) được xử lý qua phần mềm EPI-INFO 6, công trình đã xác định rõ nét các rào cản về cơ sở vật chất, quá tải giường bệnh, thiếu hụt nhân lực điều dưỡng và hạn chế năng lực quản lý bệnh viện tuyến huyện. Hệ thống giải pháp được đề xuất về hoàn thiện quy trình khám bệnh một chiều, bồi dưỡng y đức, nâng cao năng lực quản trị và đổi mới cơ chế tài chính mang tính thực tiễn cao, cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và bảo đảm quyền lợi cho người tham gia BHYT tại các địa bàn miền núi.