ĐẶT VẤN ĐỀ Đầu tư cho các bệnh viện (BV) nhi, các khoa nhi trong những năm gần đây được Nhà nước quan tâm nhiều hơn. Tuy nhiên, các BV tỉnh, huyện, đặc biệt là trạm y tế (TYT) xã vẫn còn yếu và thiếu, dẫn đến tình trạng vượt tuyến, quá tải ở tuyến trên, công suất sử dụng giường bệnh trung bình là 160%, thậm chí có thời điểm lên đến 200%, các BV Nhi tuyến Trung ương (TƯ) mỗi ngày có tới hàng ngàn trẻ em đến khám và điều trị [20]. Tại BV Nhi TƯ, nhiều khoa luôn trong tình trạng quá tải gấp hai, thậm chí gấp bốn lần, hầu hết các bệnh nhi phải nằm ghép giường. Tại khu vực phòng khám, rất nhiều trường hợp bệnh nhi đến khám chỉ mắc bệnh thông thường mà có thể giải quyết được tại TYT.
Khảo sát của Bộ Y tế (BYT) cho thấy có 45%-75,9% bệnh nhân được đưa thẳng đến bệnh viện tuyến TƯ. Mặt khác, khám và chữa bệnh cho trẻ em là một nhiệm vụ của TYT xã, đây cũng là một tiêu chí đánh giá Chuẩn Quốc gia về y tế xã [6]. Ở Việt Nam chính sách BHYT bắt đầu được thực hiện từ năm 1992 bằng sự ra đời của Nghị định số 299 về Điều lệ BHYT. Luật BHYT được Quốc hội khóa 12 thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2009 là cơ sở pháp lý cao nhất về BHYT.
Năm 2014, Luật BHYT bổ sung, sửa đổi được ban hành với mục tiêu đưa nước ta tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2020. Hơn 20 năm qua, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt bậc trong quá trình tiến tới bao phủ toàn dân (BPTD) về chăm sóc sức khỏe đặc biệt là tăng tỷ lệ số người tham gia bảo hiểm y tế đã tăng từ 5,6% dân số vào năm 1993 lên 70,8% dân số vào năm 2014. Tính đến 31/5/2015, cả nước đã có 64,6 triệu người tham gia BHYT, tăng 2,7 triệu người, tương đương 4,4 % so với cùng kỳ năm 2014, đạt tỷ lệ bao phủ 71,6% dân số (trong đó trẻ em dưới 6 tuổi là 8,4 triệu người); như vậy đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi chiếm khoảng 15% lượng dân số có thẻ BHYT tại Việt Nam, tương đương với 81% số lượng trẻ em dưới 6 tuổi toàn quốc, còn gần 2 triệu trẻ (khoảng 20%) sử dụng giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh khi đi khám chữa bệnh (KCB). Nếu tổng hợp toàn bộ dân số có thẻ BHYT thì quỹ bảo hiểm phải thanh toán cho đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi chiếm hơn 17% tổng số quỹ BHYT của người dân Việt Nam tham gia sử dụng[14],[29].
2 Tại xã Tân Chi tính đến 31/12/2014 thì tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên địa bàn xã là 71,3% và 6 tháng đầu năm 2015 tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế là 77% (trong đó số trẻ em dưới 6 tuổi là 1020 thẻ chiếm 14%). BHYT trên địa bàn xã đã bao phủ gần 100% học sinh, hộ gia đình nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi,. học sinh và trẻ em dưới 6 tuổi được đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã. Theo thống kê năm 2014 tổng số lượt KCB tại trạm y tế (TYT) 3.765 lượt trong đó khám BHYT cho trẻ em dưới 6 tuổi là 1.239 lượt, tần suất KCB/thẻ/năm chưa được 1 lần thấp hơn với tần suất KCB tại Bệnh viện huyện Tiên Du khoảng 1,2 lần và tần suất KCB chung trên toàn tỉnh/thẻ/năm là 1,4 lần, từ đó bước đầu cho thấy tỷ lệ KCB BHYT tại TYT xã Tân Chi là thấp hơn so với tỷ lệ KCB chung trên toàn tỉnh và địa bàn huyện[40].
Thăm dò ý kiến của lãnh đạo y tế huyện, thấy rằng cán bộ y tế xã còn thiếu về số lượng và yếu về chất lượng, đặt biệt là trong lĩnh vực nhi khoa. Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng và một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng thẻ BHYT, tuy nhiên các nghiên cứu này chỉ tập trung vào đối tượng tham gia BHYT tự nguyện, hộ nông dân, người nghèo, cận nghèo, từ khi Luật BHYT sửa đổi và bổ sung năm 2014 ra đời có hiệu lực từ ngày 1/01/2015 và đặc biệt từ ngày 15/11/2015 giá của 1.800 dịch vụ y tế tại các bệnh viện đồng loạt tăng, chưa có nghiên cứu nào về việc sử dụng thẻ BHYT của trẻ em dưới 6 tuổi. Với câu hỏi đặt ra là thực trạng sử dụng các dịch vụ y tế của trẻ em dưới 6 tuổi có thẻ BHYT như thế nào? Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ BHYT của đối tượng trẻ em dưới 6 tuổi? Cho đến nay trên địa bàn huyện Tiên Du nói chung và xã Tân Chi nói riêng thì chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng và một số yếu tố liên quan đến sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của trẻ em dưới 6 tuổi tại xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2016”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể: 1. Mô tả thực trạng sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của trẻ em dưới 6 tuổi bị bệnh trong 4 tuần trước điều tra tại xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2016. Xác định một số yếu tố liên quan đến sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của trẻ em dưới 6 tuổi tại Trạm Y tế xã Tân Chi, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, năm 2016. 4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Bảo hiểm Bảo hiểm là sự cam kết bồi thường của tổ chức bảo hiểm cho người tham gia khi gặp rủi ro dẫn đến tổn thất với điều kiện người tham gia bảo hiểm nộp một khoản phí cho tổ chức bảo hiểm. Phạm vi bảo hiểm là những rủi ro mà người tham gia đăng ký với tổ chức bảo hiểm [27]. Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra [14]. Bảo hiểm y tế Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Là loại bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân".
Cũng như hầu hết các quốc gia trên thế giới, Việt Nam thừa nhận quan điểm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) với cách tiếp cận “BHYT là một nội dung thuộc an sinh xã hội và là loại hình bảo hiểm phi lợi nhuận, nhằm đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi gặp rủi ro, ốm đau, bệnh tật” Theo Luật BHYT sửa đổi, bổ sung ngày 13 tháng 6 năm 2014 thì “BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo qui định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện”. Theo điều lệ BHYT ban hành kèm theo Nghị định 105/2014//NĐ-CP ngày 15/11/2014 của chính phủ đưa ra [14] [29]. Bảo hiểm y tế bắt buộc (BHYTBB) là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở bắt buộc của người tham gia. 5 Bảo hiểm y tế tự nguyện (BHYTTN) là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở tự nguyện của người tham gia.
Bảo hiểm y tế toàn dân Luật BHYT năm 2008 quy định: “BHYT toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật này đều tham gia BHYT”. Khái niệm “Bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân” hay “Bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân” được tiếp cận đầy đủ trên 3 phương diện về bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) bao gồm: (1) Bao phủ về dân số, tức là tỷ lệ dân số tham gia BHYT; (2) Bao phủ gói quyền lợi về BHYT, tức là phạm vi dịch vụ y tế được đảm bảo. Bảo hiểm y tế ở trẻ em dƣới 6 tuổi Theo quy định tại điểm e, khoản 3, điều 12 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014, trẻ em dưới 6 tuổi là đối tượng tham gia BHYT thuộc nhóm do ngân sách nhà nước đóng, Vì vậy mặc dù chưa được cấp thẻ BHYT thì trẻ dưới 6 tuổi vẫn được hưởng BHYT khi khám bệnh, chữa bệnh theo quy định tại điều 21 Luật BHYT. Tại khoản 2, điều 8 Thông tư liên tịch số 41/2014/TTLT-BYT-BTC ngày 21/11/2014 hướng dẫn thực hiện BHYT đã quy định: “Trẻ em đến khám bệnh, chữa bệnh chỉ phải xuất trình thẻ BHYT.
Trường hợp không xuất trình thẻ BHYT vẫn được hưởng quyền lợi của người tham gia BHYT nhưng phải xuất trình giấy chứng sinh hoặc giấy khai sinh; trường hợp phải điều trị ngay sau khi sinh mà chưa có giấy chứng sinh thì thủ trưởng cơ sở y tế và cha hoặc mẹ hoặc người giám hộ của trẻ ký xác nhận vào hồ sơ bệnh án để làm căn cứ thanh toán theo quy định”[11] Theo quy định tại điều 22 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT 2014 thì mức hưởng BHYT của trẻ em dưới 6 tuổi được quy định như sau: 6 - 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh đối với trẻ dưới 6 tuổi khi đi khám bệnh, chữa bệnh đúng tuyến; - 40% chi phí điều trị nội trú nếu tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại bệnh viện tuyến trung ương; - 60% chi phí điều trị nội trú nếu tự đi khám bệnh, chữa bệnh không đúng tuyến tại bệnh viện tuyến tỉnh từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2020; 100% chi phí điều trị nội trú từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 trong phạm vi cả nước; - 70% chi phí khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện tuyến huyện từ ngày Luật này có hiệu lực đến ngày 31 tháng 12 năm 2015; 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh từ ngày 01 tháng 01 năm 2016[29],[14]. Thực trạng BHYT trên thế giới và Việt Nam 1. BHYT trên thế giới Trên thế giới, BHYT là một vấn đề không mới nhưng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu vì BHYT luôn mang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. BHYT toàn dân là mục tiêu hướng tới của tất cả các quốc gia khi thực hiện chính sách BHYT.