phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nhận thức của công chúng đối với bảo hiểm y tế và mô hình nghiên cứu đề xuất. Chƣơng 2: Phân tích nhận thức của công chúng với bảo hiểm y tế ở Việt Nam hiện nay. Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao nhận thức của công chúng đối với bảo hiểm y tế ở Việt Nam. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC CỦA CÔNG CHÚNG ĐỐI VỚI BẢO HIỂM Y TẾ VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT 1.
Khái quát về bảo hiểm y tế 1. Khái niệm và đặc điểm của bảo hiểm y tế Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, khái niệm về bảo hiểm y tế được hiểu là “loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức và quản lý với mục đích huy động sự đóng góp từ các cá nhân, tập thể, cộng đồng xã hội nhằm chăm lo sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân”( Từ điển Bách khoa Việt Nam I, 1995). Mặt khác, trong Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), BHYT được nhắc đến là một trong 9 nội dụng của BHXH (ILO, 1952) Với các khái niệm trên, thêm với thực tiễn quá trình hình thành, phát triển BHXH cũng như BHYT trong nước và quốc tế, chúng ta có thể hiểu rõ hơn về BHYT. BHYT trước hết là một nội dung của BHXH và là bộ phận quan trọng của hệ thống an sinh xã hội.
Cùng với các chế độ ưu đãi xã hội, cứu trợ xã hội, BHYT nói riêng và BHXH nói chung đã thực sự trở thành nền móng vững chắc cho sự ổn định của xã hội. Có thể thấy, BHYT chính là một hình thức bảo hiểm phi lợi nhuận, hoạt động với mục đích đảm bảo chi phí y tế cho người tham gia khi họ gặp phải rủi ro ốm đau, bệnh tật.Các thành viên trong xã hội sẽ cùng nhau đóng góp một phần thu nhập của mình để tạo ra một quỹ chung với mục đích chăm sóc y tế cho chính mình và các thành viên khác. Người tham gia BHYT khi gặp phải rủi ro sức khỏe, ốm đau, bệnh tật sẽ nhận được sự sẻ chia, giúp đỡ của cả cộng đồng thông qua quỹ BHYT. Như vậy, hoạt động BHYT có tính chất chia sẻ cộng đồng rất cao, là nền tảng cho lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, điều tiết mạnh mẽ giữa người khỏe mạnh và người ốm đau, giữa người trẻ và người già, giữa người giàu và người nghèo, đảm bảo một xã hội công bằng, văn minh.
7 Ở Việt Nam, theo Luật Bảo hiểm y tế, “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật này” (Luật BHYT, 2008). Đây được coi là một khoản tiết kiệm trong số tiền thu nhập của mỗi cá nhân hay mỗi hộ gia đình đóng góp vào quỹ do Nhà nước quản lý, nhằm hỗ trợ chi trả chi phí chăm sóc sức khỏe khi các thành viên tham gia quỹ không may ốm đau, bệnh tật. Chính sách BHYT của Việt Nam được thực hiện từ năm 1992. Cho đến nay, BHYT đã khẳng định được tính đúng đắn của một chính sách xã hội của Nhà nước.
Đây là chính sách góp phần đảm bảo công bằng trong việc KCB, phù hợp với sự đổi mới, phát triển của đất nước. Người dân nói chung đang ngày càng nhận thức đúng đắn, đầy đủ hơn về sự cần thiết của BHYT cũng như trách nhiệm đối với cộng đồng xã hội. Như vậy, BHYT là chính sách xã hội lớn, là cơ chế tài chính vững chắc, mang ý nghĩa nhân đạo sâu sắc, góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội trong vấn đề bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho người dân. Với những phân tích, khái niệm nêu trên về BHYT, ta có thể thấy BHYT có những đặc điểm sau: Phạm vi đối tượng của BHYT là rất rộng, bao gồm mọi thành viên trong xã hội, không phân biệt tuổi tác, giới tính, tôn giáo, địa vị kinh tế- xã hội.
Bởi vì chăm sóc sức khỏe là nhu cầu tất yếu của con người. Và rủi ro về sức khỏe có thể xảy ra với bất cứ ai ở bất cứ độ tuổi nào, giới tính nào, điều kiện môi trường sống nào hay bất cứ thời điểm nào… Hơn nữa, BHYT được coi là quyền quan trọng của con người nên tất cả mọi người, ai cũng có quyền tham gia BHYT. Với mỗi điều kiện kinh tế- xã hội cụ thể, mỗi quốc gia có những quy định pháp luật khác nhau về đối tượng cũng như hình thức tham gia. Điểm cơ bản phân biệt BHYT với các chế độ khác trong hệ thống an sinh xã hội chính là phạm vi đối tượng.
Có thể nói, mức độ bao trùm của BHYT là mọi đối tượng trong xã hội. Đối tượng bảo vệ của BHYT là sức khỏe của con người. Khác với chế độ BHXH về ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…, BHYT không 8 nhằm bù đắp hay thay thế thu nhập thông qua khoản trợ cấp bằng tiền mà đảm nhận trách nhiệm khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe cho những người tham gia. Người tham gia BHYT đóng góp vào quỹ chung, khi ốm đau, bệnh tật sẽ được BHYT đáp ứng nhu cầu KCB, bao gồm các dịch vụ y tế, thuốc men, chữa trị bệnh tật và chăm sóc sức khỏe tại bệnh viện.
Chi phí cho việc KCB sẽ do cơ quan BHYT đảm bảo và người bệnh sẽ không phải chi trả hoặc chi trả một phần nhỏ. BHYT là chi phí ngắn hạn, không phụ thuộc và thời gian đóng, mức đóng mà phụ thuộc vào mức độ bệnh tật và khả năng cung ứng các dịch vụ y tế của các cơ sở KCB. Tức là người tham gia BHYT sẽ phải đóng một mức phí xác định trước nhưng nếu họ gặp phải rủi ro ốm đau, bệnh tật sẽ được KCB cho đến khi khỏe mạnh trở lại. Sự đa dạng các loại bệnh tật cũng như nhu cầu của mỗi người bệnh và chất lượng dịch vụ y tế ở các cơ sở y tế chính là nguyên nhân gây ra khó khăn trong việc xác định trước các chi phí y tế cho người tham gia BHYT.
Mối quan hệ BHYT là mối quan hệ giữa bên gồm bên thực hiện BHYT, bên tham gia BHYT và cơ sở KCB. Trong đó, chủ thể thực hiện BHYT cho người tham gia là cơ quan BHXH. Người tham gia sẽ có nghĩa vụ đóng phí BHYT và khi xảy ra sự kiện BHYT thì họ sẽ được thụ hưởng trực tiếp dịch vụ KCB tại các cơ sở y tế. Các chi phí y tế liên quan sẽ được cơ quan thực hiện BHYT chi trả toàn bộ hoặc một phần theo quy định.
Như vậy, quan hệ BHYT vừa là loại hình dịch vụ bảo hiểm, vừa là loại hình dịch vụ y tế. Phân loại bảo hiểm y tế BHYT được phân thành 2 loại hình: BHYT xã hội và BHYT tư nhân Bảo hiểm y tế xã hội, mang tính chất xã hội, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và được Nhà nước tổ chức thực hiện theo Luật định về BHYT. Mọi công dân đều là đối tượng của BHYT xã hội, bao gồm: người lao động, người nhận trợ cấp thất nghiệp, nông dân, người tàn tật, học sinh- sinh viên, người về hưu đang hưởng lương hưu… Tất cả người dân đều phải tham gia BHYT để đảm bảo nguyên tắc chia sẻ rủi ro cộng đồng. Những người gặp ít rủi ro sức khỏe, có thu nhập cao hơn sẽ hỗ trợ, san sẻ gánh nặng với những người có thu nhập thấp, nguy cơ rủi ro sức khỏe cao.
9 BHYT xã hội có những lợi ích cơ bản, đảm bảo rằng tổ chức, cơ quan Nhà nước sẽ triển khai đưa ra những chế độ bảo hiểm cơ bản theo đúng luật định về BHYT về thuốc men, điều trị y tế. Mọi người tham gia đều nhận được những lợi ích như nhau bất kể họ đóng góp bao nhiêu hay nguy cơ rủi ro sức khỏe của họ như thế nào. BHYT xã hội là hệ thống của sự chia sẻ. Mức phí đóng hàng tháng không tính dựa trên độ tuổi hay tình trạng sức khỏe mà dựa trên thu nhập cá nhân mỗi người.
Người có thu nhập cao sẽ chia sẻ rủi ro với những người có thu nhập thấp hơn. Chủ lao động chi trả một phần cho người lao động của mình. Đối với các đối tượng khó khăn nhất định, Nhà nước sẽ có những hỗ trợ trong việc chi trả mức phí. BHYT xã hội lại được chia thành 2 loại: BHYT bắt buộc và BHYT tự nguyện.
Đối tượng của BHYT bắt buộc được quy định theo luật định, bao gồm những người lao động có thu nhập kinh tế ổn định, làm việc tại các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang; các cán bộ, công viên chức, người hưởng lương hưu, cựu chiến binh, người cao tuổi, học sinh- sinh viên… Phạm vi, quyền lợi của BHYT bắt buộc bao gồm các chế độ BHYT cơ bản như: khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, xét nghiệm, thuốc men… BHYT tự nguyện nằm trong BHYT xã hội cũng nhằm thực hiện chính sách xã hội khi KCB, không vì mục tiêu lợi nhuận, không áp dụng các quy định pháp luật về kinh doanh BH. BHYT tự nguyện lại được áp dụng với mọi đối tượng có nhu cầu tham gia BHYT, những đối tượng đã tham gia BHYT bắt buộc nhưng có mong muốn được hưởng dịch vụ BHYT cao hơn. Khung mức phí BHYT tự nguyện được tính dựa trên theo khu vực và nhóm đối tượng tham gia. Cơ quan Nhà nước sẽ có điều chỉnh mức phí đóng đối với những hộ gia đình có đông thành viên tham gia, hỗ trợ mức đóng cho người dân ở từng đia phương, đặc biệt đối tượng cận nghèo.
Bảo hiểm y tế tư nhân mang tính chất kinh doanh, họat động vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện theo luật kinh doanh bảo hiểm. Các doanh nghiệp bảo hiểm sẽ chịu trách nhiệm triển khai, thực hiện loại hình BHYT này. 10 Đối tượng tham gia của hệ thống này là những người có thu nhập cao trong xã hội. Mức đóng của loại hình BH này được tính dựa vào độ tuổi và tình trạng sức khỏe của người tham gia.
Khi tham gia vào hệ thống BHYT tư nhân thì tình trạng hôn nhân cũng rất quan trọng. Những gia đình có nhiều trẻ em thì mức phí có thể rất đắt so với những người độc thân hay gia đình có từ 2 người trở lên đã có thu nhập.