Chương 1: Giới thiệu tổng quát về vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Trình bày về bệnh tăng huyết áp, máy đo huyết áp tự động, cơ sở lý thuyết, mô hình kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến nghiên cứu. Chương 3: Trình bày phương pháp nghiên cứu, khung phân tích, cỡ mẫu, phương pháp thu thập và xử lý số liệu. 8 Chương 4: Trình bày thống kê mô tả các biến, kết quả mô hình hồi quy, kiểm định.
Chương 5: Trình bày kết luận, kiến nghị. 9 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 2.1 Mô hình lý thuyết 2.1 Lý thuyết về độ thỏa dụng Độ thỏa dụng Có thể nói động cơ đầu tiên đưa người ta đến tiêu dùng một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó chính là sở thích về hàng hóa hay dịch vụ đó và khi tiêu dùng chúng sẽ mang lại cho người tiêu dùng một cảm giác bằng lòng hoặc thỏa mãn nào đó. Để đo lường mức độ bằng lòng hoặc thỏa mãn này, người ta sử dụng khái niệm gọi là độ thỏa dụng. Độ thỏa dụng biểu thị mức độ thích thú, thỏa mãn hoặc bằng lòng mà một người tiêu dùng có được từ việc tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó.
Sự bằng lòng hay thỏa mãn của người tiêu dùng khi tiêu dùng một loại hàng hóa hay dịch vụ thường thay đổi mà không cố định, vì vậy độ thỏa dụng cũng là một đại lượng liên tục thay đổi và có các đặc điểm: - Độ thỏa dụng phụ thuộc vào đánh giá chủ quan của người tiêu dùng: với cùng một loại hàng hóa hay dịch vụ, đối với người này có thể có cảm giác hài lòng khi tiêu dùng nó nhiều hơn nhưng đối với người khác, điều này lệ thuộc vào sở thích của người tiêu dùng đối với hàng hóa hay dịch vụ đó. - Độ thỏa dụng phụ thuộc vào số lượng hàng hóa hay dịch vụ được tiêu dùng: khi tiêu dùng nhiều hơn một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó người tiêu dùng luôn cảm thấy hài lòng nhiều hơn, tức là độ thỏa dụng khi tiêu dùng nhiều lớn hơn khi tiêu dùng ít. - Độ thỏa dụng phụ thuộc vào từng điều kiện tiêu dùng cụ thể: trong những hoàn cảnh khác nhau mức độ hài lòng có được khi tiêu dùng cùng một loại hàng hóa cũng khác nhau. 10 Nhu cầu sử dụng máy đo huyết áp tại nhà là một hàm bắt nguồn từ nhu cầu về sức khỏe và mô hình hóa như một quyết định để tự kiểm tra huyết áp tại nhà và quyết định nhà cung cấp máy đo huyết áp.
Lợi ích có được từ sử dụng máy đo huyết áp tại nhà là sức khỏe tốt nhận được từ hiệu quả điều trị khi kiểm soát được chỉ số huyết áp. Lý thuyết giả định rằng các cá nhân có thể xếp hạng ưu tiên và có thể lựa chọn một sự kết hợp hàng hóa và dịch vụ để tối đa hóa hữu dụng của họ. Tổng độ thỏa dụng (TU) Tổng độ thỏa dụng là toàn bộ mức độ thỏa mãn hoặc bằng lòng mà một người tiêu dùng có được khi tiêu dùng một số các hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó trong một thời gian cố định. Tổng độ thỏa dụng có thể được biểu diễn dưới dạng một hàm số của một tập hợp những hàng hóa, dịch vụ nào đó: TU = f (X, Y, Z, …).
Khi tiêu dùng càng nhiều hàng hóa, dịch vụ thì tổng độ thỏa dụng mang lại cho người tiêu dùng càng lớn. Nhưng ở một mức độ nào đó, tổng độ thỏa dụng sẽ đạt đến mức tối đa cho dù có tiêu dùng nhiều hơn nữa. Đó là điểm bão hòa của người tiêu dùng đối với sản phẩm đó. Tuy nhiên trên thực tế rất hiếm khi người tiêu dùng lại tiêu dùng quá mức một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó, bởi lẽ khi không còn cảm giác hài lòng hay thỏa mãn nữa nghĩa là không còn sở thích đối với hàng hóa hay dịch vụ đó thì người tiêu dùng sẽ không tiếp tục tiêu dùng.
Do vậy trong nghiên cứu này, chỉ nghiên cứu trong số lượng hàng hóa còn mang lại cảm giác thích thú cho người tiêu dùng, tức là chỉ xem xét tổng độ thỏa dụng luôn tăng khi số lượng hàng hóa được tiêu dùng tăng. 11 Độ thỏa dụng biên (MU) Độ thỏa dụng biên là mức tăng thêm của tổng độ thỏa dụng (TU) khi tiêu dùng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ nào đó, được tính theo công thức: MU = ∆MU/∆Q Độ thỏa dụng biên MU chính là độ dốc của đường tổng độ thỏa dụng ngay tại điểm đang xét. Đường bàng quan Đường bàng quan hay còn gọi là đường đẳng ích minh họa cho sở thích của người tiêu dùng về hàng hóa hay dịch vụ, được xây dựng trên các giả định: - Đối với một loại hàng hóa bao giờ người tiêu dùng cũng thích tiêu dùng nhiều hơn là tiêu dùng ít. - Một người tiêu dùng có thể biết mình thích một tập hợp hàng hóa này hơn một tập hợp hàng hóa khác hoặc không xác định được mình thích tập hợp hàng hóa nào hơn trong hai tập hợp hàng hóa được cho trước.
- Sở thích của người tiêu dùng có tính chất bắc cầu. Với ba giả định trên, đường bàng quan thể hiện những kết hợp khác nhau trong việc lựa chọn hai hàng hóa và tất cả những kết hợp đó đều mang lại tổng độ thỏa dụng như nhau cho người tiêu dùng. Các đường bàng quan có các đặc điểm: - Các đường bàng quan dốc xuống và thường lồi về phía gốc tọa độ. - Các đường bàng quan không cắt nhau.
- Có vô số đường bàng quan, các đường bàng quan càng xa gốc tọa độ phản ánh độ thỏa dụng càng cao so với các đường bàng quan nằm gần gốc tọa độ.1: Đường bàng quan Đường giới hạn ngân sách Người tiêu dùng lựa chọn tiêu dùng một hàng hóa hay dịch vụ nào đó dựa trên sở thích về hàng hóa và dịch vụ đó và số tiền mà họ có. Đường giới hạn ngân sách minh họa cho số tiền hạn chế mà người tiêu dùng dành để mua hàng hóa và dịch vụ. Đường giới hạn ngân sách dựa trên các giả định: - Người tiêu dùng chỉ mua hai loại hàng hóa. - Giá cả hàng hóa được cho trước.
- Người tiêu dùng sử dụng toàn bộ hay ngân sách của mình. Với ba giả định trên, đường ngân sách cho biết tất cả các kết hợp tối đa của hai loại hàng hóa mà người tiêu dùng có thể mua được với cùng một mức ngân sách. Lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng Mục đích của người tiêu dùng là đạt được sự thỏa mãn tối đa bằng nguồn thu nhập hạn chế của mình và như vậy sự lựa chọn của người tiêu dùng bị ràng 13 buộc bởi nhân tố chủ quan là sở thích của họ và nhân tố khách quan là sự giới hạn trong ngân sách tiêu dùng. Việc chi mua của người tiêu dùng phải chấp nhận một chi phí cơ hội vì việc mua hàng hóa này đồng thời sẽ làm giảm cơ hội mua nhiều hàng hóa khác.
Người tiêu dùng sẽ tối đa hóa hữu dụng của mình tại điểm mà đường bàng quan và đường ngân sách tiếp xúc nhau.2 Lý thuyết hành vi người tiêu dùng Học thuyết Maslow Theo A.Maslow (Maslow, 1943), nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết.2: Tháp nhu cầu Maslow Maslow mô hình hóa nhu cầu con người thành hình tháp năm tầng, tầng đáy là các nhu cầu cơ bản, tăng dần cho tới tầng đỉnh là các nhu cầu cao cấp. 14 Tầng 1 (Nhu cầu sinh lý): các nhu cầu vật chất tối thiểu phải có để con người có thể tồn tại hàng ngày như thức ăn, không khí, nước, ngủ,… Tầng 2 (Nhu cầu về an toàn): con người cần được cảm thấy an toàn ở nơi sinh sống và làm việc, được đảm bảo an ninh, nơi chăm sóc chữa trị khi bệnh, được pháp luật bảo vệ, tài sản không bị mất mát. Tầng 3 (Yêu mến và phụ thuộc): Nhu cầu được giao lưu bạn bè, đồng nghiệp, các mối quan hệ, tham gia các hoạt động xã hội. Tầng 4 (Nhu cầu được tôn trọng): được mọi người trong gia đình, hàng xóm, bạn bè, đồng nghiệp, xã hội tôn trọng, yêu quý.
Tầng 5 (Nhu cầu tự thể hiện): là bậc cao nhất trong tháp nhu cầu của con người, con người muốn tự do sáng tạo, muốn được công nhận và khen thưởng những gì mình đã thực hiện. Các nhu cầu về y tế và chăm sóc sức khỏe thuộc về tầng thứ hai. Người bệnh THA cần được quan tâm chăm sóc, điều trị cũng như các chính sách hỗ trợ nhằm ngăn ngừa bệnh tiến triển cũng như đem đến cuộc sống hạnh phúc, vui khỏe cho người bệnh. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng Văn hóa: Các yếu tố văn hóa có ảnh hưởng lớn đến hành vi của người tiêu dùng.
Vai trò của nền văn hóa, nhánh văn hóa và giai tầng xã hội là một bộ phận không thể tách rời của môi trường văn hóa. Văn hóa là một nguyên nhân căn bản dẫn đến nhu cầu và hành vi của một người. Có bốn loại nhánh văn hóa lớn nhất là: dân tộc, tôn giáo, chủng tộc, các nhóm có xuất xứ từ các vùng địa lý nhất định. Tầng lớp xã hội bao gồm những thành viên có chung những giá trị, mối quan tâm và hành vi.
15 Yếu tố xã hội: Hành vi của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố xã hội như các nhóm liên quan, gia đình, vai trò và địa vị xã hội. Các thành viên trong gia đình người tiêu dùng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hành vi mua sắm của người đó. Yếu tố tâm lý: Sự lựa chọn của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của những yếu tố tâm lý. Quyết định của người tiêu dùng còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố đặc điểm cá nhân bao gồm tuổi tác, giai đoạn của chu trình đời sống, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, nhân cách và lẽ sống của con người.3 Lý thuyết hành vi sự lựa chọn của khách hàng – Mô hình kinh tế lượng Hành vi: Dưới góc nhìn sinh học, hành vi được xem như là cách sống, hoạt động trong một môi trường nhất định dựa trên sự cần thiết thích nghi tối thiểu của cơ thể với môi trường.
Dưới góc nhìn tâm lý học, con người là một chủ thể tích cực do đó hành vi của con người luôn có mục đích, đảm bảo cho con người tồn tại và phát triển.