ĐẶT VẤN ĐỀ Chính sách Bảo hiểm Y tế (BHYT) là một trong hai trụ cột chính trong hệ thống chính sách an sinh xã hội (ASXH), có vai trò rất quan trọng trong công tác chăm sóc sức khỏe, khám chữa bệnh (KCB) cũng như đảm bảo sự công bằng trong tiếp cận các dịch vụ Y tế đối với hầu hết các thành viên trong xã hội. Để đảm bảo quyền lợi cho người dân trong thực hiện KCB BHYT, ngày 14/11/2008 Luật BHYT đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 và ngày 13/6/2014 Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT. Luật này đã thể chế hóa đường lối, chủ trương chính sách của Đảng trong lĩnh vực BHYT thành pháp Luật của Nhà nước, tạo cơ sở pháp lý cơ bản và đầy đủ nhất trong thực hiện chính sách BHYT. Huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk có 16 đơn vị hành chính cấp xã/Thị trấn trực thuộc, các xã đều có trạm Y tế trong đó 16/16 xã, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về Y tế.
Có 02 đơn vị Y tế tuyến huyện: Bệnh viện đa khoa khu vực 333 và Trung tâm Y tế huyện Ea Kar. Trung tâm Y tế Huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk được thành lập theo Quyết định số 1922/QĐ-UBND ngày 19/07/2019 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk lắk; Là TTYT có giường bệnh, gồm: 5 phòng chức năng; 11 khoa chuyên môn; 16 trạm Y tế xã/Thị trấn. Theo thống kê chi phí năm 2021 tổng số tiền được BHYT chi trả là trên 26 tỷ đồng, trong số đó chi phí từ chối chi trả là hơn 132 triệu đồng chiếm khoảng trên 0,5% tổng chi quỹ BHYT cho KCB. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nghiên cứu nào về thực trạng từ chối chi trả chi phí BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk.
Do đó, bước đầu khảo sát kết quả từ chối chi trả chi phí BHYT là hết sức cần thiết. Với mong muốn góp phần tăng cường việc chỉ định hợp lý nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi của người có thẻ BHYT khi đi KCB, chúng tôi thực hiện đề 1 tài: “Phân tích thực trạng bị từ chối chi trả Bảo hiểm Y tế về chi phí thuốc và dịch vụ kỹ thuật tại trung tâm Y tế huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk năm 2021” với hai mục tiêu sau: - Mô tả cơ cấu thuốc và dịch vụ kỹ thuật bị từ chối chi trả BHYT tại Trung tâm Y tế huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk năm 2021; - Phân tích một số nguyên nhân dẫn đến việc từ chối chi trả chi phí thuốc và dịch vụ kỹ thuật tại Trung tâm Y tế huyện Ea Kar tỉnh Đắk Lắk năm 2021. Tổng quan về Bảo hiểm Y tế 1.1 khái niệm Bảo hiểm Y tế Ra đời từ cuối thế kỷ XIX, BHYT là một trong những biện pháp hiệu quả nhất giúp đỡ mọi người khi gặp rủi ro về sức khỏe, để trang bị phần nào chi phí khám chữa bệnh giúp ổn định đời sống góp phần bảo đảm an toàn xã hội. BHYT là một trong 9 nội dung của BHXH được Quy định trong Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH [21] Khái niệm BHYT, theo Từ điển bách khoa Việt Nam xuất bản năm 1995, “là loại Bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân” [11] Theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 được Quốc hội thông qua ngày 14/11/2008: BHYT là hình thức Bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo Quy định của Luật này [18] Theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT số 46/2014/QH13 được Quốc hội thông qua ngày 13/6/2014: BHYT là hình thức Bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo Quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện [19] Tóm lại, BHYT là hình thức huy động nguồn lực tài chính của cộng đồng, dưới sự tổ chức và bảo hộ của Nhà nước, thực hiện nguyên lý chia sẻ rủi ro, lấy tài chính từ đóng góp của số đông người khỏe mạnh, bù đắp, trợ giúp thanh toán viện phí cho số ít người tham gia không may rủi ro đau ốm, đi khám chữa bệnh.
Đặc điểm của Bảo hiểm Y tế Bảo hiểm Y tế xã hội có những đặc điểm sau [23]: Thứ nhất, đây là một chính sách xã hội có đối tượng rất rộng, rất đa dạng, diện bao phủ lớn, cho nên nó phải được Luật hoá. Chính vì vậy, việc tổ chức triển khai chính sách này luôn gặp phải những khó khăn phức tạp. Bởi thế, chính sách BHYT phải được nghiên cứu, ban hành cho phù hợp với từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nguyên tắc chung mà các nước vận dụng khi thực hiện là đi từ đơn giản đến phức tạp, từ một nhóm đối tượng cụ thể, có điều kiện tham gia, đến toàn dân; Thứ hai, BHYT hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận.
Điều này thể hiện rõ nhất là toàn bộ phí Bảo hiểm thu được, chủ yếu dùng để phục vụ công tác khám chữa bệnh cho người dân; Thứ ba, BHYT luôn thể hiện rõ tính kinh tế, tính xã hội, tính nhân đạo và nhân văn cao cả. Tính kinh tế trong BHYT thể hiện rõ nhất ở quá trình hình thành và sử dụng quỹ, thông qua các hoạt động thu chi và đầu tư quỹ nhàn rỗi. Tính xã hội của BHYT thể hiện khá toàn diện, bởi đối tượng tham gia loại hình Bảo hiểm này sẽ là mọi người dân trong xã hội, không phân biệt giới tính, dân tộc, tôn giáo, địa vị xã hội. Tính nhân đạo và nhân văn của BHYT thể hiện ở chính mục tiêu của chính sách này.
Với nguyên tắc "số đông bù số ít", BHYT đã giúp người dân, nhất là người nghèo, phân tán được rủi ro và chia sẻ về tài chính giữa những người tham gia. BHYT luôn đứng cạnh mỗi người dân trong những lúc khó khăn nhất, khi họ phải đối mặt với ốm đau, bệnh tật; Thứ tư, nguồn lực tài chính đáp ứng nhu cầu của chính sách BHYT luôn gặp phải những khó khăn phức tạp do đối tượng đông, diện bao phủ rộng, giá cả các DVKT lại có xu hướng ngày càng gia tăng; Thứ năm, việc xây dựng chính sách và tổ chức triển khai thực hiện chính sách BHYT ở các nước khác nhau là khác nhau. Bởi mỗi nước đều có những điểm đặc thù về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và lịch sử. Ngay trong một 4 nước cũng có thể phải thực hiện khác nhau giữa các thời kỳ.
Vì thế, việc học tập kinh nghiệm các nước cần phải có sự chọn lọc cho phù hợp. Nhưng đồng thời luôn phải coi chăm sóc sức khoẻ người dân là quyền cơ bản chứ không phải là sự ban ơn hay thương hại. Điều đó cũng có nghĩa cần phải quán triệt quan điểm này ở tất cả các cấp, các ngành và mọi người dân trong xã hội, nhất là đội ngũ cán bộ ngành Y tế. Vai trò của Bảo hiểm Y tế Lịch sử hình thành và phát triển của BHYT cho thấy từ lâu BHYT đã có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, dần trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hệ thống chính sách an sinh xã hội.
BHYT được coi là một cơ chế tài chính Y tế hiệu quả trong vấn đề quản lý chi tiêu Y tế, là công cụ chủ yếu nhằm đạt được các mục tiêu của chính sách Y tế. Vai trò của BHYT được thể hiện ở các điểm sau [22]: - Quỹ BHYT đảm bảo quyền lợi về chăm sóc Y tế và nâng cao chất lượng KCB cho người tham gia BHYT khi họ không may bị ốm đau bệnh tật; - Người tham gia BHYT được cộng đồng chia sẻ gánh nặng tài chính cá nhân khi sử dụng DVKT; - BHYT góp phần giảm thiểu gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, tạo ra và đảm bảo nguồn tài chính ổn định cho công tác chăm sóc sức khỏe; - BHYT góp phần thực hiện công bằng xã hội trong lĩnh vực Y tế và tái phân phối thu nhập giữa mọi người; - BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó giữa các thành viên trong xã hội. Như vậy BHYT ra đời không những giúp cho người tham gia BHYT khắc phục khó khăn về kinh tế khi rủi ro ốm đau xảy ra, mà còn giảm bớt gánh nặng cho ngân sách Nhà nước, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng và công bằng trong KCB.