ĐẶT VẤN ĐỀ Tăng huyết áp là nguyên nhân tử vong của 6% người trưởng thành trên toàn thế giới và được tìm thấy ở tất cả các quần thể người, ngoại trừ thiểu số cá thể sống trong xã hội biệt lập. Ở những nước phát triển, tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp tăng theo tuổi, ở mức 20% - 30% toàn bộ dân số trưởng thành và đạt 60% - 70% ở những quần thể trên 70 tuổi. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính của bệnh tim mạch, góp phần đáng kể vào tỷ lệ bệnh tật và tỷ lệ tử vong do đột quỵ, nhồi máu cơ tim, bệnh thận giai đoạn cuối và suy tim xung huyết (1). Nguyên nhân khiến cho THA gây ra gánh nặng bệnh tật và tử vong nặng nề trên toàn thế giới như vậy đã được WHO chỉ ra, đó là có ba nghịch lý đang tồn tại trong hoạt động phòng chống tăng huyết áp ở hầu như khắp các khu vực: phát hiện THA rất dễ nhưng tỷ lệ phát hiện lại thấp; điều trị THA đơn giản nhưng tỷ lệ điều trị chỉ chiếm khoảng 30% và tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị THA rất hạn chế.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc kiểm soát tăng huyết áp phụ thuộc nhiều vào việc tuân thủ điều trị của bệnh nhân. Tuân thủ điều trị sẽ giúp cho huyết áp được kiểm soát tốt hơn, phòng ngừa được những biến chứng của bệnh và giúp cho chất lượng cuộc sống của người bệnh được nâng cao. Có những bằng chứng thuyết phục từ các thử nghiệm lâm sàng chỉ ra rằng lợi ích của việc tuân thủ điều trị tăng huyết áp sẽ làm giảm tỷ lệ mắc và tử vong do các bệnh tim mạch ít nhất lên đến độ tuổi 79, nguy cơ bị đột quỵ giảm 30%, nguy cơ biến cố mạch vành giảm 23%, nguy cơ gây tử vong do tất cả nguyên nhân giảm 23% nếu bệnh nhân tuân thủ điều trị tăng huyết áp (1). Dù với bằng chứng rõ ràng và ngay cả nhận thức về bệnh đã được nâng cao trong 2 thập kỷ vừa qua, thực tế vẫn có nhiều người không được điều trị và chỉ dưới 50% số bệnh nhân được điều trị được kiểm soát đầy đủ (1).
Trong nghiên cứu của Đặng Thị Thu Huyền năm 2018 tại xã Thạch Lỗi huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương trên 218 đối tượng, kết quả chỉ có 39,9% bệnh nhân THA tuân thủ điều trị chung (2). Trong nghiên cứu trên 300 người bệnh mắc THA đang có hồ sơ bệnh án điều trị ngoại trú tại Khoa Khám bệnh của Trung tâm Y tế thành phố Hòa Bình năm 2019 2 của tác giả Đỗ Duy Tần cho thấy tỷ lệ người bệnh tuân thủ điều trị THA chung đạt 44% (3). Theo báo cáo cuối năm 2020 của Chương trình phòng chống bệnh không lây nhiễm tại quận Sơn Trà, qua công tác khám sàng lọc phát hiện ra 5.948 người bệnh bị mắc bệnh tăng huyết áp, chỉ có 1033 người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý điều trị tại các Trạm Y tế trên địa bàn quận Sơn Trà, và tỷ lệ đạt mục tiêu điều trị trung bình hàng tháng chỉ khoảng 32% (4). Nhằm trả lời câu hỏi thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp đang được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà như thế nào? Những yếu tố nào thực sự liên quan đến sự tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp? Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng tuân thủ điều trị và một số yếu tố liên quan của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022”.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022. Xác định một số yếu tố liên quan đến tuân thủ điều trị của người bệnh tăng huyết áp được quản lý tại các Trạm Y tế quận Sơn Trà thành phố Đà Nẵng năm 2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Tổng quan về bệnh tăng huyết áp 1. Một số khái niệm 1. Huyết áp Huyết áp là áp lực dòng máu ở trong lòng động mạch tác động lên thành mạch. Huyết áp được tạo ra bởi lực co bóp của tim và sức cản của động mạch.
Khi tim co bóp, máu sẽ được bơm ra ngoài và ép vào thành động mạch làm mạch máu căng lên. Số đo huyết áp ở thời điểm này gọi là huyết áp tâm thu hay huyết áp tối đa. Sau khi co bóp tim sẽ giãn ra và thành động mạch sẽ trở về trạng thái ban đầu. Số đo huyết áp tại thời điểm này gọi là huyết áp tâm trương hay huyết áp tối thiểu (5).
Theo Tổ chức y tế Thế giới, huyết áp bình thường đo ở cánh tay là ≤ 120/80 mmHg. Đây là huyết áp bình thường đối với người trưởng thành. Huyết áp có đặc điểm là thay đổi theo thời gian, trạng thái tâm sinh lý và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố khác (5). Tăng huyết áp Tăng huyết áp là khi huyết áp tâm thu ≥ 140 mmHg và/hoặc huyết áp tâm trương ≥ 90 mmHg hoặc khi đang được điều trị bằng một thuốc hạ huyết áp (6).
Nguyên nhân: phần lớn tăng huyết áp (THA) ở người trưởng thành là không rõ nguyên nhân (THA nguyên phát), chỉ có khoảng 10% các trường hợp là có nguyên nhân (THA thứ phát) (6). Phân loại tăng huyết áp • Chẩn đoán xác định THA: dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình, ngưỡng chẩn đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo HA (6). Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo (7) Huyết áp tâm Huyết áp thu tâm trương 1. Cán bộ y tế đo theo đúng quy ≥ 140 mmHg ≥ 90 mmHg trình và/hoặc 2.
Đo bằng máy đo HA tự động 24 ≥ 130 mmHg ≥ 80 mmHg giờ (trung bình 24 giờ) 5 3. Tự đo tại nhà (đo nhiều lần) ≥ 135 mmHg ≥ 85 mmHg • Phân độ THA: dựa vào trị số huyết áp do cán bộ y tế đo được. Phân độ huyết áp (8) Huyết áp tâm Huyết áp tâm Phân độ huyết áp thu (mmHg) trương (mmHg) Huyết áp tối ưu < 120 và < 80 Huyết áp bình thường 120 – 129 và 80 – 84 Huyết áp bình thường cao 130 – 139 và/hoặc 85 – 89 Tăng huyết áp độ 1 140 – 159 và/hoặc 90 – 99 Tăng huyết áp độ 2 160 – 179 và/hoặc 100 – 109 Tăng huyết áp độ 3 ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 Tăng huyết áp tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90 Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn huyết áp ở mức cao hơn để xếp loại. THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu (6).
Điều trị tăng huyết áp 1. Nguyên tắc chung - Cần điều trị đúng và đủ hàng ngày; quản lý và theo dõi đều, điều trị lâu dài, chỉnh liều định kỳ. - Mục tiêu điều trị THA nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển các biến chứng của THA trên cơ quan đích: nghĩa là cần đạt “huyết áp mục tiêu” và giảm tối đa “nguy cơ tổn thương cơ quan đích”, cụ thể mục tiêu về HA tại trạm y tế như sau: + HA tâm thu từ 120 đến <130 mmHg (người < 65 tuổi) và từ 130 đến < 140 mmHg (người ≥ 65 tuổi), có thể thấp hơn nếu dung nạp được. + HA tâm trương cần đạt từ 70 đến <80 mmHg.
- Cần khỏi trị sớm, tích cực để nhanh chóng đạt HA mục tiêu trong vòng 1 – 3 tháng. - Chiến lược điều trị luôn gồm biện pháp thay đổi lối sống kết hợp thuốc hạ HA khi có chỉ định 6 - Thời điểm khởi trị THA: + Khởi trị khi HA ≥ 140/90 mmHg ở người < 80 tuổi hoặc ≥ 160/90 mmHg ở người ≥ 80 tuổi + Khi HA từ 130 – 139/85 – 89 mmHg: cần thay đổi lối sống, cân nhắc phối hợp với điều trị thuốc khi nguy cơ tim mạch rất cao. - Tiếp tục duy trì lâu dài phác đồ điều trị khi đã đạt HA mục tiêu, cũng như cần theo dõi chặt để định kỳ chỉnh thuốc. - Kiểm soát đồng thời các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như ĐTĐ, rối loạn lipid máu… để tăng tối đa hiệu quả dự phòng tổn thương cơ quan đích và giảm thiểu nguy cơ tim mạch tổng thể.
- Chú ý cá thể hóa điều trị trên cơ sở đánh giá toàn diện HA, hiệu quả/giá thành và khả năng tuân thủ điều trị (8). - Giáo dục truyền thông sức khỏe đối với người dân nói chung và người bệnh nói riêng có đầy đủ kiến thức về THA và các yếu tố nguy cơ tim mạch, về lối sống tốt cho tim mạch, về mục tiêu và tuân thủ điều trị là tiền đề quan trọng để nâng cao hiệu quả điều trị với người THA và dự phòng THA với những người chưa THA, trong đó cần nhấn mạnh: Điều trị THA là một điều trị suốt đời; Triệu chứng cơ năng của THA không phải lúc nào cũng gặp và không tương xứng với mức độ nặng nhẹ của THA; Chỉ có thay đổi tích cực lối sống kèm theo tuân thủ chặt chẽ chế độ điều trị thích hợp mới giảm đáng kể các tai biến do THA; Huyết áp và các yếu tố nguy cơ tim mạch khác luôn tiến triển theo tuổi, vì thế theo dõi đều đặn định kỳ (hàng tháng, hàng quý, hàng năm) số đo huyết áp và đánh giá các yếu tố nguy cơ kèm theo là hết sức cần thiết để điều chỉnh lối sống và chế độ điều trị kịp thời (6). Các biện pháp tích cực thay đổi lối sống Áp dụng cho mọi người bệnh để ngăn ngừa tiến triển và giảm được huyết áp, giảm số thuốc cần dùng,… - Chế độ ăn hợp lý, đảm bảo đủ kali và các yếu tố vi lượng: + Giảm ăn mặn (< 6 gam muối hay 1 thìa cà phê muối mỗi ngày). Cần lưu ý là: 80% lượng muối đã có sẵn trong thức ăn.
+ Tăng cường rau xanh, hoa quả tươi. 7 + Hạn chế thức ăn có nhiều cholesterol và axít béo no. - Tích cực giảm cân (nếu quá cân), duy trì cân nặng lý tưởng với chỉ số khối cơ thể (BMI: body mass index) từ 18,5 đến 22,9 kg/m2. - Cố gắng duy trì vòng bụng dưới 90 cm ở nam và dưới 80 cm ở nữ.
- Hạn chế uống rượu, bia: số lượng ít hơn 2 cốc chuẩn/ngày (nam), ít hơn 1 cốc chuẩn/ngày (nữ). - Ngừng hoàn toàn việc hút thuốc lá hoặc thuốc lào.