CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Ø Ngoài nước Từ những năm 1990 của thế kỷ 20 đến nay nhiều tổ chức quốc tế như IPCC, UNDP, IUCN, WB, ADB và nhiều nhà khoa học của các nước trên thế giới đã tập trung vào đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tại các khu vực, vùng lãnh thổ và đặc biệt là tại quốc gia được dự báo là sẽ hứng chịu nhiều rủi ro nhất do biến đổi khí hậu trong đó có Việt Nam. Theo IPCC [38] nguy cơ tổn thương trước biến đổi khí hậu được xác định là “mức độ mà một hệ thống nhạy cảm hoặc là không thể đương đầu với những tác động của biến đổi khí hậu, bao gồm những thay đổi và hiện tượng cực đoan của khí hậu”. IPCC đã xác định 3 biến số cần thiết để đánh giá nguy cơ tổn thương là: Tai biến khí hậu (đe dọa), tính nhạy cảm với tai biến và năng lực thích ứng và đương đầu với các tác động tiềm năng.
Bezuien [29] cho rằng nguy cơ tổn thương là hàm số của đặc điểm, mức độ và tỷ lệ của những thay đổi về khí hậu mà theo đó, một hệ thống bị đặt vào tình trạng đe dọa, mức độ nhạy cảm và năng lực thích ứng của nó. Đánh giá nguy cơ tổn thương mô tả một tập hợp nhiều phương pháp được sử dụng để tổng hợp và nghiên cứu sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh họ một cách có hệ thống. Lĩnh vực đánh giá nguy cơ tổn thương ra đời để giải quyết nhu cầu định lượng hóa xem các cộng đồng sẽ thích ứng như thế nào với những thay đổi điều kiện môi trường. Theo báo cáo về đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới sức khỏe cộng đồng của trung tâm hợp tác về môi trường và đánh giá tác động sức khỏe cộng động của WHO, thuộc trường đại học Curtin (Úc) [41].
Nêu rõ những tác động mà biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng tới sức khỏe con người. Trong đó xác định những tác động trực tiếp và gián tiếp mà biến đổi khí hậu tác động lên con người thông qua làm thay đổi môi trường sống như những thay đổi về nhiệt độ, chất lượng nước, môi trường không khí, thực phẩm… đồng thời cũng đưa ra những biện pháp và chiến lược thích ứng. Báo cáo biến đổi khí hậu, tác động dễ bị tổn thương và sức khỏe cộng đồng của A. Haines và nnk [24], nêu nên những thay đổi về khí hậu, nước biển dâng đã tác động tiêu cực tới sức khỏe con người.
Những thay đổi về thời tiết như nhiệt độ, lũ lụt, bão… Gây ra các loại bênh như truyền nhiễm, dị ứng, vấn đề về các nguồn nước hoặc chết do đuối nước … Trong một báo cáo của IUCN về “Người bản địa và biến đổi khí hậu” vào tháng 3/2008 xác định rằng: Các yếu tố dễ bị tổn thương của cộng đồng bản địa đối với biến z đổi khí hậu được phân làm 2 nhóm: Các yếu tố dễ bị tổn thương thuộc về xã hội và các yếu tố dễ bị tổn thương thuộc về mặt lý sinh. Báo cáo nêu ra những nguyên nhân như sự nghèo đói, bất bình đẳng, dinh dưỡng, mạng lưới liên kết trong xã hội, việc không có điều kiện tiếp cận với thông tin, đa dạng sinh kế và quyền tiếp cận và sử dụng đất. Ø Trong nước Những nghiên cứu về mức độ tổn thương của biến đổi khí hậu tới sức khỏe cộng đồng ở trong nước chưa có nhiều, chủ yếu mới chỉ tập trung vào những tác động của yếu tố thời tiết khí hậu cụ thể đến sức khỏe của con người như bức xạ, nhiệt độ, độ ẩm, mây, gió. cho một số loại hình hoạt động như rèn luyện thân thể (Đào Ngọc Phong (1979, 1984) [7], [8]), lao động, nghỉ ngơi và du lịch (Trần Việt Liễn (1993) [4]).
Việc nghiên cứu tác động của các yếu tố khí hậu đối với sinh vật, đặc biệt là đối với con người cũng được một số tác giả tiến hành (Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc [1], Nguyễn Khanh Vân [12]. Trong những nghiên cứu này các tác giả đã chỉ ra được một số ngưỡng thích nghi về khí hậu đối với sức khỏe cũng như đời sống của con người và các khu vực có khí hậu thời tiết thuận lợi đối với sản xuất và đời sống. Tác động của biến đổi khí hậu đến sức khỏe cộng đồng rất đa dạng và phức tạp và tác động trực tiếp của biến đổi khí hậu đến cơ thể con người thể hiện ở khí hậu nóng ẩm, cường độ mặt trời lớn, biến động thời tiết mạnh mẽ (Nguyễn Đức Ngữ [6]). Những nghiên cứu trên đây mới chỉ dừng lại chủ yếu ở việc đánh giá dựa trên sự biến động của các yếu tố khí hậu mà chưa xét đến năng lực thích ứng của con người để đưa ra một chỉ số nói lên mức độ nguy cơ của tác động do biến đổi khí hậu đến sức khỏe cộng đồng.
Nghiên cứu về tính dễ bị tổn thương, Trần Đắc Phu, Trịnh Hữu Vách và nnk [9] đã thành lập bản đồ dễ bị tổn thương sức khỏe dân cư do tác động của biến đổi khí hậu đối với 63 tỉnh thành của Việt Nam dựa vào chỉ số tổn thương được tính toán thông qua các yếu tố như: Mức độ hứng chịu, độ nhạy và năng lực thích ứng của từng tỉnh với các mức: Tổn thương thấp, trung bình, cao và rất cao. Nghiên cứu này cho ta một bức tranh tổng quát về phân bố không gian của các mức độ tổn thương theo các tỉnh thành, nhưng về mức độ chi tiết đối với từng tỉnh thành, nhất là đối với các khu vực ven biển thì chưa đáp ứng được. Phạm Xuân Ninh [5] đã đánh giá những tác động trực tiếp của BĐKH tới sức khỏe, khi khí hậu biến đổi có liên quan trực tiếp và gián tiếp tới đời sống và sức khỏe của cộng đồng ở mọi quốc gia, đặc biệt là đối với những người nghèo, những vùng dễ bị tác động của BĐKH gây ra. Những tác động trực tiếp thường thông qua mối quan hệ trao đổi vật chất, năng lượng giữa cơ thể con người với môi trường xung quanh dẫn đến những thay đổi về sinh lý, tập quán, năng lực thích nghi và những phản ứng qua lại giữa cơ thể và môi trường.
Các đợt nắng nóng kéo dài, nhiệt độ không khí tăng gây z ra tác động không mong muốn đối với sức khỏe con người đăc biệt ở những người già, người mắc bệnh tim mạch… Tác động gián tiếp của BĐKH thường thông qua các nguồn gây bệnh, làm tăng khả năng bùng phát và lan truyền các bệnh dịch như bệnh cúm A/H5N1, tiêu chảy, dịch tả… BĐKH còn làm gia tăng một số bệnh nhiệt đới như sốt rét, sốt xuất huyết và xuất hiện những loại dịch bệnh truyền nhiễm mới. Nguyên Công Khanh [2] khi nghiên cứu về biến đổi khí hậu toàn cầu với sức khỏe trẻ em chỉ ra rằng: Trẻ em là nhóm có nhiều nguy cơ tổn thương với những biến đổi về khí hậu hơn người lớn, do đặc điểm cơ thể chưa trưởng thành về thể chất, sinh lý và nhận thức. Những quá trình ảnh hưởng của BĐKH tới sức khỏe trẻ em như: (1) Biến đổi môi trường do tăng ô nhiễm, thay đổi bức xạ của tia cực tím; (2) thay đổi thời tiết như nhiệt độ tăng cao; (3) thay đổi về sinh thái lâu dài ảnh hưởng tới lương thực, thực phẩm, phơi nhiễm các loại bệnh… Ngoài ra, còn có nhiều bài báo trên các tạp chí khoa học cũng hướng tới việc nghiên cứu những ảnh hưởng của BĐKH tới sức khỏe của con người, như: Bài báo “Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đến sức khỏe” của tác giả Nguyễn Thanh Điệp (2014). “Biến đổi khí hậu gây ra nhiều bệnh tật cho con người” tác giả Lê Căn (2014).
“Tác động của biến đổi khí hậu tới sức khỏe trẻ em” tác giả Phan Thùy Linh, Lê Thị Thanh Hương (2013). Hầu hết những bài báo này đều nêu lên những tác động và nguyên nhân trực tiếp, gián tiếp mà biến đổi gây tác động tiêu cực tới con người, đồng thời cũng đưa ra những kiến nghị cho việc giảm nhẹ và thích ứng với những tác động mà BĐKH gây ra. TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Vị trí địa lý Tỉnh Thanh Hoá thuộc vùng Bắc Trung Bộ của nước ta, có tọa độ địa lý từ 19⁰18 – 20⁰00 vĩ độ Bắc và 104⁰22 - 106⁰04 kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp 3 tỉnh Sơn La, Hoà Bình và Ninh Bình - Phía Nam giáp tỉnh Nghệ An - Phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDC nhân dân Lào - Phía Đông giáp Vịnh Bắc Bộ Tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 02 thị xã và 24 huyện, với tổng diện tích tự nhiên 11.129,48 km2, dân số trung bình năm 2013 khoảng 3,5 triệu người, mật độ dân số 312 người/km2. Đặc điểm địa chất, địa hình, địa mạo 1. Đặc điểm địa chất khoáng sản Thành phần nền rắn: Nền rắn của Thanh Hóa khá đa dạng với các thành tạo có tuổi thành tạo từ Cambri trung tới ngày nay với thành phần từ các đá biến chất, trầm tích (đá phiến, đá hoa, đá vôi, cát kết, cuội kết, sỏi kết…) đến các đá phun trào (spilit, riôlit, bazan), đá xâm nhập (granit). Ở vùng núi – đồi chủ yếu là các thành tạo đá phiến, đá hoa, đá vôi, đá cuội, cát, bột kết và một số loại đá xâm nhập.
Ở vùng đồng bằng xen đồi, tại phần cao chủ yếu là cát, bột kết, xen các khối và dải núi đá vôi nhỏ và ở phần thấp là các thành tạo cát, bột, sét có nguồn gốc phù sa sông, đôi chỗ là sông biển cổ. Tại vùng đồng bằng ven biển, thành tạo cát, bột sét, đôi chố lẫn mùn bã thực vật chiếm ưu thế với nguồn gốc biển, sông-biển, sông-biển-đầm lầy. Tài nguyên khoáng sản: Hiện Thanh Hóa có 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng sản, trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như Crôm, đá ốp lát, đô lô mít, chì kẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý [17]. Nhiều mỏ có trữ lượng lớn và phân bố tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, sét xi măng.
Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong phát triển công nghiệp khai khoáng, công nghiệp sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng.