ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam cũng nhƣ nhiều quốc gia đang phát triển khác, tỷ lệ phát triển dân số còn cao [42], thu nhập bình quân đầu ngƣời thấp, dƣới mức nghèo theo tiêu chuẩn quốc tế [5]. Thực tế cho thấy một quốc gia, nếu chỉ tìm cách giải quyết vấn đề kinh tế - xã hội mà không chú trọng đến việc kiểm soát dân số, kế hoạch hóa gia đình để giảm tỷ lệ phát triển dân số thì cũng không nâng cao đƣợc chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân và ngƣợc lại [6]. Thực hiện các biện pháp tránh thai là một trong những yếu tố quan trọng làm giảm tỷ lệ phát triển dân số trong chiến lƣợc kế hoạch hóa gia đình và phát triển đất nƣớc, là một trong những tác nhân cơ bản để nâng cao chất lƣợng cuộc sống. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình đã bắt đầu từ năm 1960.
Trải qua gần hơn thế kỷ, với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nƣớc, với ý thức tự nguyện tham gia của toàn dân và sự cố gắng không mệt mỏi của những ngƣời đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp thực hiện công cuộc này, đến nay công tác Dân số kế hoạch hoá gia đình đã đạt đƣợc những kết quả đáng kể. Nếu nhƣ đầu những năm 2010 bình quân một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ 3,4 con, thì vào năm 2017 trung bình khoảng 2 con. Để giảm đƣợc mức sinh, công tác kế hoạch hoá gia đình phải trở thành Quốc sách. Nghị quyết lần thứ tƣ của Ban chấp hành Trung ƣơng Đảng khoá VII về chính sách dân số- kế hoạch hoá gia đình đã chỉ rõ: “Sự gia tăng dân số quá nhanh là một trong những nguyên nhân sâu xa, kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, cản trở việc cải thiện đời sống của nhân dân và chất lượng giống nòi”[3].
Do đó, song song với việc phát triển kinh tế đòi hỏi phải thực hiện tốt các chƣơng trình Dân số-Kế hoạch hoá gia đình, đặc biệt là phải thực hiện tốt các biện pháp tránh thai hiện đại và nâng cao kiến thức, thái độ, thực hành về kế hoạch hóa gia đình của các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. Vì vậy cần tuyên truyền nâng cao nhận thức của ngƣời dân về việc sử dụng các biện pháp tránh thai, nâng cao chất lƣợng dịch vụ kế hoạch hoá gia đình đến các cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ. 2 Hội Nghị Quốc tế về Dân số và phát triển tại Cairo đã kêu gọi việc tiếp cận một cách đa dạng các phƣơng tiện tránh thai. Việc sử dụng các BPTT trên toàn thế giới có sự khác biệt giữa các vùng và các quốc gia khác nhau.
Tại Anh, tỷ lệ sử dụng các BPTT là 82,0%, Trung Quốc là 86,9%[39]. Nhờ thành công của chƣơng trình Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tại Việt Nam tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai cả nƣớc chiếm 79,5% đã tiết kiệm các khoản chi phí cho các dịch vụ xã hội.[5] Kết quả công tác Dân số-Kế hoạch hóa gia đình tại tỉnh Đồng Tháp đạt đƣợc góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần vào công cuộc xóa đói, giảm nghèo, bảo vệ, chăm sóc sức khỏe ngƣời phụ nữ, nâng cao tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai 68,5 %[7] Thành công của chƣơng trình Dân số Kế hoạch hóa gia đình trong những năm qua đã huyện Cao Lãnh góp phần tăng tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai 76,47[20], đã tiết kiệm các khoản chi cho các dịch vụ xã hội, và thách thức liên quan đến sức khỏe sinh sản, sức khỏe tình dục. Trong những năm vừa qua, Mỹ Long là một trong những xã đƣợc đánh giá là có nhiều cố gắng trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp tránh thai trong chiến lƣợc thực hiện kế hoạch hóa gia đình, nhằm đạt đƣợc mục tiêu giảm sinh. Tuy nhiên, kết quả báo cáo năm 2010, 2015, 2017 cho thấy kết quả còn nhiều hạn chế.
Cụ thể năm 2017 công tác Dân số - KHHGĐ đã đạt đƣợc những con số nhƣ: Tổng tỷ suất sinh 13,55%o, tỷ lệ tăng dân số 1,12%, tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai hiện đại 65%. Tỷ lệ sử dụng dụng cụ tử cung và đình sản của toàn xã năm 2017 đã đạt 34,5 tỷ lệ thấp so với các xã Bình Hàng Tây, Mỹ Hiệp (báo cáo công tác Dân số xã Mỹ Long năm 2017)[7]. Sử dụng biện pháp tránh thai đƣợc xem là giải pháp hiệu quả nhất để đạt mục tiêu đề ra trong chiến lƣợc về Dân số-Kế hoạch hóa gia đình. Tuy nhiên, cho đến nay chƣa có một nghiên cứu bài bản nào đƣợc thực hiện cung cấp thông tin về thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai và các yếu tố ảnh hƣởng tại xã Mỹ Long huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Do vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm trả lời các câu hỏi: Thực trạng sử dụng một số biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15 – 49 tuổi đã có chồng tại xã Mỹ Long huyện Cao Lãnh năm 2018 nhƣ thế nào? Một yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ có chồng. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU: 1. Mô tả thực trạng sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ở phụ nữ 15–49 tuổi có chồng tại xã Mỹ Long huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp năm 2018. Xác định một số yếu tố liên quan đến việc sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại của phụ nữ từ 15 – 49 tuổi có chồng tại xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
4 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm trong nghiên cứu Kinh tế hộ gia đình: Theo Quyết định số: 03/QĐ-UBND ngày 14/4/2017 của UBND tỉnh Đồng Tháp về việc ban hành chuẩn hộ gia đình thu nhập thấp trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp giai đoạn 2017 – 2020, đánh giá mức thu nhập đầu ngƣời/tháng. Mức nghèo và cận nghèo: đối với khu vực thành thị là những hộ có mức thu nhập từ 1.000 đồng ngƣời/tháng, với khu vực nông thôn là những hộ có mức thu nhập 1.000 đồng/tháng với khu vực nông thôn ngoại thành. Sử dụng các BPTT hiện đại: khái niệm sử dụng các BPTT hiện đại trong luận văn chỉ việc sử dụng các BPTT hiện đại phổ biến hiện nay, bao gồm dụng cụ tử cung, thuốc uống tránh thai, thuốc tiêm tránh thai, triệt sản nữ, bao cao su.
Sử dụng các BPTT truyền thống: những phụ nữ sử dụng bất kỳ một BPTT truyền thống nào bao gồm: xuất tinh ngoài âm đạo (giao hợp gián đoạn), tính vòng kinh, cho bú vô kinh. và các biện pháp truyền thống khác. Không sử dụng BPTT: các ĐTNC không sử dụng bất kỳ BPTT nào bao gồm cả BPTT hiện đại và BPTT truyền thống tại thời điểm nghiên cứu đƣợc xếp vào nhóm “không sử dụng BPTT’’ 1. Một số thông tin cơ bản về kế hoạch hóa gia đình, các biện pháp tránh thai 1.1 Kế hoạch hóa gia đình (KHHGĐ) Khi nhắc đến KHHGĐ ngƣời ta sẽ nghĩ ngay đến việc tránh thai.
Nhƣng thực tế hiện nay vẫn còn một số ngƣời hiểu KHHGĐ theo nghĩa hẹp mà chƣa nắm bắt đầy đủ, toàn diện về nội dung cũng nhƣ phƣơng pháp thực hiện KHHGĐ. KHHGĐ đƣợc hiểu “những nỗ lực của các cặp vợ chồng hay của cá nhân nhằm mục đích chủ động sinh đẻ số con và thời gian sinh con theo ý muốn bằng việc áp dụng các biện pháp tránh thai một cách hiệu quả, nghĩa là nắm lấy và sử dụng quyền sinh của mình’’[4]. Từ hai khái niệm trên cho chúng ta thấy đƣợc giữa số ngƣời giàu và nghèo có tỷ lệ áp dụng các biện tránh thai nhiều hay ít, trong xã hội ngày nay KHHGĐ là 5 quyền cũng là trách nhiệm của mỗi con ngƣời, mỗi cặp vợ chồng. Họ có quyền tự quyết dịnh với ý thức trách nhiệm về số con của mình trên cơ sở những thông tin và sự hiểu biết để thực hiện quyền ấy.2 Các biện pháp tránh thai (BPTT) 1.
BPTT là biện pháp can thiệp tác động lên cá thể hoặc vợ chồng nhằm ngăn ngừa việc thụ thai ở ngƣời phụ nữ[2]. Các BPTT đƣợc áp dụng trên con ngƣời nên khi đƣa vào sử dụng cần phải chú ý đến những tính chất của các BPTT[4]: Tính an toàn cho ngƣời sử dụng, hạn chế tối đa tác dụng biện pháp can thiệp tác động lên cá thể hoặc vợ chồng nhằm ngăn ngừa việc thụ thai ở ngƣời phụ nữ. Các BPTT đƣợc áp dụng trên con ngƣời nên khi đƣa vào sử dụng cần phải chú ý đến những tính chất của các BPTT: - Tính an toàn cho ngƣời sử dụng, hạn chế tối đa tác dụng - Tính hiệu quả: BPTT phải có khả năng tránh thai cao. - Dễ phục hồi: Ngƣời sử dụng dễ dàng mang thai trở lại sau khi ngừng sử dụng BPTT.
- Đƣợc pháp luật cho phép và và đƣợc xã hội chấp nhận. - Dễ sản xuất, dễ cung ứng và sử dụng.4 Cách phân loại Căn cứ vào cơ chế tác dụng, tinh chất và phƣơng thức cung ứng, có thể có nhiều cách phân loại các BPTT. Phân thành nhóm các BPTT ngắn hạn và dài hạn hoặc phân thành các biện pháp tránh thai tạm thời và các BPTT vĩnh viễn; hoặc một cách phân loại khác là nhóm biện pháp tránh thai hiện đại và truyền thống. Mục dƣới đây sẽ trình bày chi tiết về các biện pháp tránh thai hiện đại.
Các biện pháp tránh thai hiện đại Các BPTT hiện đại bao gồm hai nhóm: BPTT lâm sàng và BPTT phi lâm sàng[4] 6 - Các BPTT lâm sàng là những biện pháp tránh thai khi thực hiện cần có sự giúp đỡ của cán bộ y tế nhƣ: Triệt sản nam, triệt sản nữ, dụng cụ tử cung, thuốc tiêm tránh thai.[4] * Dụng cụ tử cung (Vòng tránh thai) Ƣu điểm: rẻ, sử dụng tiện lợi, thời gian sử dụng lâu dài, hiệu quả tránh thai cao; nhanh chóng có thai sau khi tháo bỏ dụng cụ. Nhƣợc điểm: không có tác dụng ngăn ngừa các bệnh lây qua đƣờng tình dục; cần có sự can thiệp y tế khi đặt vòng; tăng lƣợng máu kinh, nguy cơ viêm nhiễm đƣờng sinh dục. * Thuốc tiêm Tránh Thai Ƣu điểm: hiệu quả tránh thai cao; tác dụng kéo dài, giảm nguy cơ u xơ tử cung, ngăn ngừa ung thƣ niêm mạc tử cung. Nhƣợc điểm: rối loạn kinh nguyệt, vô kinh; có thai trở lại chậm; không tránh đƣợc các bệnh lây qua đƣờng tình dục.
* Triệt sản Ƣu điểm: Hiệu quả tránh thai cao, chỉ thực hiện một lần có tác dụng tránh thai vĩnh viễn; không có tác dụng không mong muốn, không ảnh hƣởng đến sức khỏe và đời sống tình dục.