Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá kết quả can thiệp phòng lây nhiễm hpv của phụ nữ có chồng tại một số xã ở hải dương và phú thọ

Luận án tiến sĩ nghiên cứu y tế công cộng đánh giá kết quả can thiệp phòng lây nhiễm hpv của phụ nữ có chồng tại một số xã ở, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

224
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đặc điểm, đường lây truyền và hậu quả do nhiễm HPV

1.2. Tình hình nhiễm HPV ở phụ nữ

1.3. Kiến thức, thái độ, hành vi về phòng lây nhiễm HPV

1.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, hành vi phòng nhiễm HPV

1.5. Các can thiệp dự phòng nhiễm HPV và UTCTC

1.6. Cơ sở lý thuyết xây dựng hoạt động can thiệp phòng lây nhiễm HPV

1.7. Thông tin chung về địa bàn nghiên cứu

1.8. Mô tả đề tài gốc và vai trò của nghiên cứu sinh

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Thiết kế nghiên cứu

2.5. Mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.6. Các biến số nghiên cứu

2.7. Thu thập số liệu

2.8. Phân tích số liệu

2.9. Xây dựng hoạt động can thiệp

2.10. Đạo đức nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Kiến thức, thái độ, hành vi của đối tượng nghiên cứu trước can thiệp

3.3. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ và hành vi phòng nhiễm HPV

3.4. Đánh giá kết quả can thiệp về kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ 15-49 tuổi có chồng về phòng nhiễm HPV trước và sau can thiệp

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Bàn luận về kiến thức của phụ nữ có chồng tuổi 15-49 về phòng nhiễm HPV trước can thiệp

4.2. Thái độ phòng HPV của phụ nữ có chồng tuổi 15-49 trước can thiệp

4.3. Hành vi phòng nhiễm HPV của phụ nữ đã có gia đình tuổi 15-49 trước can thiệp

4.4. Một số yếu tố liên quan đến kiến thức, hành vi phòng nhiễm HPV

4.5. Kết quả của hoạt động can thiệp

4.6. Hạn chế của đề tài và cách khắc phục

4.7. Tính mới và đóng góp của luận án

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ KẾT QUẢ

PHỤ LỤC 1: BẢNG BIẾN SỐ

PHỤ LỤC 2: BỘ CÔNG CỤ THU THẬP SỐ LIỆU ĐỊNH LƯỢNG

PHỤ LỤC 3: CÁCH TÍNH ĐIỂM KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH

PHỤ LỤC 4: MỘT SỐ ĐIỂM ĐƯỢC ĐIỀU CHỈNH SAU QUÁ TRÌNH THỬ NGHIỆM

PHỤ LỤC 5: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO TTYT THỊ XÃ/ TYT XÃ/ PHƯỜNG TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 6: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU LÃNH ĐẠO UBND (PHỤ TRÁCH CÔNG TÁC VĂN HÓA, XÃ HỘI), ĐẠI DIỆN HỘI PHỤ NỮ, ĐOÀN THANH NIÊN XÃ/PHƯỜNG TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 9: TỔNG HỢP PHÂN TÍCH ĐỊNH TÍNH TRƯỚC CAN THIỆP - CƠ SỞ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP

PHỤ LỤC 10: NỘI DUNG TỜ THÔNG TIN, CUỐN SÁCH MỎNG VÀ TÀI LIỆU TẬP HUẤN CÁN BỘ TYT, Y TẾ THÔN BẢN, HỘI PHỤ NỮ, ĐOÀN THANH NIÊN PHƯỜNG/XÃ

PHỤ LỤC 11: LÝ GIẢI LỰA CHỌN CHIẾN LƯỢC VÀ GIẢI PHÁP CAN THIỆP CHO CHƯƠNG TRÌNH CAN THIỆP PHÒNG LÂY NHIỄM HPV CHO PHỤ NỮ CÓ GIA ĐÌNH TUỔI 15-49

PHỤ LỤC 12: KẾ HOẠCH THỰC HIỆN CAN THIỆP THEO THỜI GIAN

PHỤ LỤC 13: TỜ THÔNG TIN VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HPV CHO PHỤ NỮ 15-49 TUỔI

PHỤ LỤC 14: SÁCH MỎNG VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HPV CHO PHỤ NỮ 15-49 TUỔI

PHỤ LỤC 15: KỊCH BẢN PHÁT THANH VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HPV TẠI CHÍ LINH, HD

PHỤ LỤC 16: MẪU TÚI XÁCH SỬ DỤNG TRONG CAN THIỆP PHÒNG LÂY NHIỄM HPV TẠI CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

PHỤ LỤC 17: MẪU POSTER SỬ DỤNG TRONG CAN THIỆP PHÒNG LÂY NHIỄM HPV TẠI CHÍ LINH, HẢI DƯƠNG

PHỤ LỤC 18: KỊCH BẢN TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NÓI CHUYỆN VÀ TỔ CHỨC TRÒ CHƠI TÌM HIỂU VỀ HPV

PHỤ LỤC 19: KIẾN THỨC VỀ ĐỐI TƯỢNG, YẾU TỐ TĂNG NGUY CƠ, ĐƯỜNG LÂY NHIỄM VÀ CÁCH HẠN CHẾ LÂY NHIỄM HPV TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 20: KIẾN THỨC VỀ TRIỆU CHỨNG, HẬU QUẢ VÀ KHẢ NĂNG ĐIỀU TRỊ KHI NHIỄM HPV TRƯỚC VÀ SCT

PHỤ LỤC 21: SỰ THAY ĐỔI VỀ TỶ LỆ ĐỐI TƯỢNG CHO RẰNG ĐÃ CÓ VẮC XIN PHÒNG HPV TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 22: KIẾN THỨC LIÊN QUAN ĐẾN VẮC XIN HPV TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 23: NHẬN THỨC VỀ RÀO CẢN KHI THỰC HIỆN HÀNH VI TIÊM VẮC XIN HPV TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 24: SỰ THAY ĐỔI KIẾN THỨC CHUNG VỀ PHÒNG LÂY NHIỄM HPV TRƯỚC VÀ SAU CAN THIỆP

PHỤ LỤC 25: LÝ DO SỬ DỤNG BCS

PHỤ LỤC 26: ĐÁNH GIÁ TÍNH GIÁ TRỊ VÀ ĐỘ TIN CẬY CỦA THANG ĐO THÁI ĐỘ VỀ DỰ PHÒNG LÂY NHIỄM HPV

PHỤ LỤC 27: TIẾP XÚC VỚI CÁC LOẠI HÌNH CAN THIỆP VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI KIẾN THỨC PHÒNG LÂY NHIỄM HPV CỦA ĐỐI TƯỢNG (KẾT QUẢ PHÂN TÍCH LOGISTIC ĐƠN BIẾN)(N=320)

PHỤ LỤC 28: KQ PHÂN TÍCH DID SAU KHI BỎ CÁC BIẾN ĐỘC LẬP VỀ ĐẶC ĐIỂM ĐTNC

PHỤ LỤC 29: GIẤY XÁC NHẬN ĐỒNG Ý CHO SỬ DỤNG SỐ LIỆU

Tóm tắt

I. Đặt Vấn Đề

Vi rút gây u nhú ở người (HPV) là một trong những nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung (UTCTC) ở phụ nữ. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc UTCTC đang gia tăng, đặc biệt ở những phụ nữ có độ tuổi từ 15-49. Việc hiểu biết về HPV và các biện pháp phòng ngừa là rất quan trọng để giảm thiểu nguy cơ mắc bệnh. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả của các can thiệp phòng lây nhiễm HPV cho phụ nữ có chồng tại Hải Dương và Phú Thọ, từ đó cung cấp thông tin hữu ích cho các chương trình y tế cộng đồng.

1.1. Tình Hình Nhiễm HPV

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm có khoảng 270.000 phụ nữ tử vong do UTCTC, trong đó phần lớn là ở các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, nghiên cứu cho thấy HPV là nguyên nhân chính gây ra UTCTC. Việc nâng cao nhận thức về HPV và các biện pháp phòng ngừa như tiêm vắc xin và khám sàng lọc là cần thiết để giảm tỷ lệ mắc bệnh. Các can thiệp này không chỉ giúp nâng cao kiến thức mà còn thay đổi thái độ và hành vi của phụ nữ trong việc phòng ngừa lây nhiễm HPV.

II. Phương Pháp Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại một số xã ở Hải Dương và Phú Thọ, với đối tượng là phụ nữ có chồng trong độ tuổi từ 15-49. Phương pháp nghiên cứu bao gồm khảo sát định lượng và định tính để thu thập thông tin về kiến thức, thái độ và hành vi của đối tượng về phòng lây nhiễm HPV. Các biến số nghiên cứu được xác định rõ ràng, và quy trình thu thập số liệu được thực hiện một cách nghiêm ngặt nhằm đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy của kết quả.

2.1. Thiết Kế Nghiên Cứu

Nghiên cứu được thiết kế theo phương pháp can thiệp trước và sau, nhằm đánh giá sự thay đổi trong kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ về phòng lây nhiễm HPV. Các hoạt động can thiệp bao gồm giáo dục sức khỏe, phát tờ rơi và tổ chức các buổi nói chuyện về HPV. Kết quả thu được sẽ được phân tích để đánh giá hiệu quả của các can thiệp này trong việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của phụ nữ.

III. Kết Quả Nghiên Cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự cải thiện rõ rệt về kiến thức, thái độ và hành vi của phụ nữ về phòng lây nhiễm HPV sau can thiệp. Tỷ lệ phụ nữ biết đến HPV và các biện pháp phòng ngừa đã tăng lên đáng kể. Ngoài ra, việc tiêm vắc xin HPV cũng được nhiều phụ nữ quan tâm hơn. Những thay đổi này cho thấy hiệu quả của các can thiệp trong việc nâng cao nhận thức và thực hành phòng ngừa lây nhiễm HPV.

3.1. Đánh Giá Hiệu Quả Can Thiệp

Đánh giá hiệu quả can thiệp cho thấy tỷ lệ phụ nữ có kiến thức đúng về HPV tăng từ 40% lên 75% sau can thiệp. Thái độ tích cực về việc tiêm vắc xin cũng tăng lên 60%. Hành vi sử dụng biện pháp bảo vệ trong quan hệ tình dục cũng có sự cải thiện rõ rệt. Những kết quả này chứng minh rằng các can thiệp giáo dục sức khỏe có tác động tích cực đến việc phòng ngừa lây nhiễm HPV.

IV. Bàn Luận

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nâng cao kiến thức và thay đổi thái độ của phụ nữ về HPV là rất quan trọng trong việc phòng ngừa UTCTC. Các can thiệp giáo dục không chỉ giúp phụ nữ hiểu rõ hơn về HPV mà còn khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động phòng ngừa. Điều này có thể góp phần giảm tỷ lệ mắc bệnh và tử vong do UTCTC trong cộng đồng.

4.1. Tính Mới và Đóng Góp Của Nghiên Cứu

Nghiên cứu này đóng góp vào việc xây dựng các chương trình can thiệp phòng lây nhiễm HPV cho phụ nữ có chồng tại các vùng nông thôn. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để phát triển các chiến lược giáo dục sức khỏe hiệu quả hơn, nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của phụ nữ trong việc phòng ngừa lây nhiễm HPV.

07/02/2025
Luận án tiến sĩ y tế công cộng đánh giá kết quả can thiệp phòng lây nhiễm hpv của phụ nữ có chồng tại một số xã ở hải dương và phú thọ

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đặc điểm, đường lây truyền và hậu quả do nhiễm HPV 1. Một số đặc điểm của HPV HPV là một vi rút không có vỏ ngoài, kích thước nhỏ, đường kính trung bình khoảng 45-55 nm. Lớp vỏ protein của vi rút bao bọc nucleic acid và được cấu thành từ các đơn vị cấu trúc (structure units), các đơn vị cấu trúc này cấu thành 1 capsomer (đơn vị hình thái quan sát được trên bề mặt của các hạt vi rút tương ứng với tập hợp các đơn vị cấu trúc), lớp vỏ của vi rút được cấu thành từ 72 capsomer.

Mỗi đơn vị capsomer gồm 2 loại protein là protein L1 và L2 [46]. Cho đến nay, đã có gần 120 loại HPV được xác định. Mỗi loại có sự thích nghi cao với một loại biểu mô nhất định. Các loại HPV có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng khác nhau ví dụ như mụn cóc hoặc ung thư.

Tùy thuộc vào nguy cơ gây ung thư người ta chia các loại HPV làm 3 nhóm là nhóm chưa xác định được nguy cơ gây bệnh (HPV 3, 7, 10, 13, 27,.), nhóm có nguy cơ thấp (HPV 6, 11, .) và nhóm có nguy cơ cao (HPV 16, 18,. Tuy có sự khác biệt về tần suất nhiễm các loại HPV giữa các vùng địa lý nhưng loại 16,18 thường là nguy cơ gây ung thư cổ tử cung ở hầu hết các nơi trên thế giới [12], [17], [28], [58], [145]. Các đường lây truyền và hậu quả do nhiễm HPV HPV lây truyền chủ yếu qua đường tình dục. Hoạt động tình dục đồng giới hay khác giới đều có thể lây truyền HPV trực tiếp qua đường sinh dục, miệng và hậu môn [21], [55], [61].

HPV cũng có thể lây truyền trực tiếp từ da qua da, qua niêm mạc miệng và niêm mạc bộ phận sinh dục do vết thương hở ở bộ phận sinh dục, qua các hành vi tình dục trong đó có sờ, chạm vào bộ phận sinh dục bằng tay hoặc bằng miệng của người bệnh sang người lành [2], [60]. HPV còn có thể lây truyền qua các vật dụng như quần áo hay bề mặt tiếp xúc, tuy nhiên cơ chế lây truyền chưa rõ. Một số tác 5 giả cho rằng HPV có thể lây truyền từ mẹ sang con trong thời kỳ trước và sau sinh, tuy nhiên các trường hợp này hiếm gặp [93], [150]. Hầu hết những trường hợp nhiễm HPV là tạm thời, không có biểu hiện lâm sàng và thường tự khỏi sau khoảng vài tháng đến 2 năm [27], [60].

Tuy nhiên những trường hợp này có thể tái nhiễm hoặc bị nhiễm một loại HPV khác. Khoảng 10% số trường hợp nhiễm HPV còn lại gây bệnh có biểu hiện lâm sàng [60]. Các tổn thương bệnh nặng nhất là cổ tử cung, gây UTCTC xâm lấn nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời [27], [151], [153]. Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhiễm HPV là yếu tố nguy cơ mắc một số loại ung thư khác như ung thư âm đạo, âm hộ ở phụ nữ; ung thư dương vật ở nam giới hoặc ung thư da, tổ chức liên kết, vòm họng, trực tràng, hậu môn và hầu họng ở cả phụ nữ và nam giới [12], [121].

HPV còn có thể gây ra mụn cóc ở cơ quan sinh dục (chiếm 90% số trường hợp mắc chủng nguy cơ thấp 6 và 11) và mụn cơm ở họng, tay, chân [60]. Tuy không gây nguy hiểm đến tính mạng nhưng u nhú gây tình trạng không thoải mái, ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, giảm chất lượng cuộc sống của người nhiễm HPV [151], [173]. Tình hình nhiễm HPV ở phụ nữ 1. Tình hình nhiễm HPV trên thế giới HPV là loại vi rút phổ biến nhất ở đường sinh sản cả nam và nữ, là nguyên nhân của một số triệu chứng hoặc tổn thương tiền ung thư.

Hơn 50% số phụ nữ ở tuổi có hoạt động tình dục có nguy cơ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời, tuy nhiên phần lớn tự khỏi trong vòng 2 năm, nhưng có khoảng 10% trong số họ nhiễm một số loại HPV dai dẳng và có nguy cơ tiến triển thành ung thư, chủ yếu là UTCTC [22]. Theo ước tính của WHO mỗi năm trên thế giới có khoảng 530.000 trường hợp mắc mới và hơn 270.000 người tử vong do UTCTC, chiếm 7,5% các ca tử vong do ung thư ở phụ nữ. Hơn 85% trường hơp tử vong do UTCTC xảy ra ở các nước đang phát triển [173]. Tỷ lệ nhiễm HPV dao động ở các quần thể dân cư khác nhau trên thế giới và sự phân bố các loại HPV cũng thay đổi theo khu vực.

Phân tích tổng hợp của WHO 6 năm 2014 cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ trên thế giới không có tổn thương UTCTC là khoảng 11,7%. Khu vực có tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất là Cận Saharan Châu Phi là 24%, tiếp đến là vùng châu Mỹ la tinh và Caribe (16,1%); ở khu vực Đông Nam Á là 14%. Tuy nhiên sau phân tích điều chỉnh theo quốc gia thì kết quả về nhiễm HPV ở phụ nữ ở các nước trên thế giới khác nhau rất nhiều, thấp nhất là 1,6% và cao nhất là 41,9% [171]. Độ tuổi nhiễm HPV cao nhất ở phụ nữ dưới 25 tuổi với tỷ lệ trung bình là 24%.

Tuy nhiên một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm ở vùng Trung và Nam Mỹ tăng lên ở phụ nữ từ 45 tuổi trở lên, hay ở một số nước có thu nhập thấp ở châu Á và châu Phi thì tỷ lệ mắc hầu như không có gì khác biệt theo nhóm tuổi [151]. Phân tích kết quả xét nghiệm tế bào cổ tử cung phụ nữ nhiễm HPV cho thấy các type HPV bị nhiễm phổ biến nhất là HPV16 (2,5%), HPV18 (0,9%), HPV31 (0,7%), HPV58 (0. Tuy nhiên, mức độ phổ biến của từng chủng loại có khác nhau theo từng quốc gia và lãnh thổ. Các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV52 là phổ biến ở Nhật Bản, Đài Loan và các nước Đông Phi trong khi đó HPV18 là chủng vi rút phổ biến nhất ở Nam Châu Âu; HPV53 là 1 trong 5 loại HPV chủ yếu được phát hiện tại Đông Phi, Trung và Bắc Mỹ.

Mặc dù có một số khác nhau về mức độ phổ biến của một số chủng HPV, nhìn chung HPV16 và HPV18 vẫn là 2 chủng phổ biến và nguy hiểm nhất ở mọi quốc gia và là nguyên nhân của hơn 70% các ca bệnh UTCTC xâm lấn [61] [91]. Tình hình nhiễm HPV ở Việt Nam Tỷ lệ nhiễm HPV tại Việt Nam đang có chiều hướng gia tăng và có sự khác nhau giữa các vùng miền. Một số nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở khu vực phía Nam cao hơn phía Bắc. Năm 2004, nghiên cứu của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế (IARC) cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng dân cư nữ từ 18-75 tuổi tại Hà Nội là 4,05% [1].

Năm 2010, tác giả Bùi Diệu và cộng sự thực hiện nghiên cứu trên 1620 phụ nữ độ tuổi 18-65 thuộc hai quận của Hà Nội cho thấy tỉ lệ nhiễm HPV là 6,4% [7]. Cũng trong năm 2010, tác giả Trần Thị Lợi nghiên cứu trên phụ nữ 18-69 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả tỷ lệ nhiễm là 10,8% [17] và tác giả Vũ Thị Hoàng Lan thực hiện nghiên cứu trên 1500 phụ nữ độ tuổi 7 18-65 thuộc hai quận của Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỉ lệ nhiễm HPV trên toàn mẫu là 7,2%, tỉ lệ này ở Thành phố Hồ Chí Minh cao hơn ở Hà Nội và tương ứng là 8,3% và 6,1%[13]. Nghiên cứu của Hồ Thị Phương Thảo và cộng sự năm 2011 cho tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ đến khám phụ khoa tại Bệnh viện trung ương Huế là 19,6% [30]. Năm 2012, Nguyễn Hữu Quyền nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ đến khám phụ khoa ở Bệnh viện đa khoa MEDILATEC cho kết quả cao tới 29,8% [25].

Nhìn chung, kết quả của các nghiên cứu trong nước cũng đã cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV ở Việt Nam khác nhau ở các vùng miền, tăng theo thời gian cũng tương tự như kết quả một số tác giả khác trên thế giới [1], [13], [17], [28], [37]. Các chủng loại HPV phân lập được ở Việt Nam cũng bao gồm nhiều loại khác nhau. Nghiên cứu của tác giả Vũ Hoàng Lan và cộng sự phát hiện được 18 loại, trong đó 5 loại HPV có tỉ lệ hiện mắc cao nhất ở Hà Nội là HPV16, 18, 58, 81 và 45 và 5 loại có tỉ lệ hiện mắc cao nhất ở Thành phố Hồ Chí Minh là HPV 18, 11, 16, 58 và 70 [13]. Lê Quang Vinh nghiên cứu ở cả 3 miền trong cả nước phát hiện được các loại HPV nguy cơ thấp bao gồm: 6, 11, 42, 43, 61, 62, 70, 71, 81 và các loại HPV thuộc nhóm nguy cơ cao là 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 53, 56, 58, 59, 66 và 68.

Cũng giống như kết quả của nhiều tác giả khác, tỷ lệ HPV 11 và 6 là phổ biến trong nhóm nguy cơ thấp và loại 16, 18 và 58 chiếm đa số trong nhóm nguy cơ cao. Tỷ lệ phụ nữ chỉ nhiễm 1 loại HPV chiếm nhiều nhất (khoảng 50,4%), số nhiễm 2 loại là 22,9% và số nhiễm từ 3 loại trở lên chiếm 26,7% [37]. Nghiên của của Trần Thị Lợi ở thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả về tỷ lệ các chủng có nguy cơ cao là 9,1% và chủng có nguy cơ thấp là 1,7%, trong đó cao nhất là HPV 16 (chiếm 56%), tiếp theo là HPV 18 (38%), chủng 58 là 11% và chủng 11 là 5% [17]. Như vậy, 2 chủng HPV16 và HPV18 cũng là 2 chủng HPV phổ biến nhất như các nước khác trên thế giới.

Ngoài ra một số chủng HPV nguy cơ cao là HPV58, HPV52, HPV35, và HPV45 cũng được ghi nhận có tỷ lệ nhiễm cao ở phụ nữ có viêm nhiễm cổ tử cung ở Việt Nam. Các phương pháp dự phòng UTCTC do lây nhiễm HPV Ung thư cổ tử cung là bệnh nguy hiểm, tỷ lệ tử vong cao nhưng nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời thì có thể phòng được phần lớn các trường hợp bệnh. Nhiễm một hoặc nhiều loại HPV nguy cơ cao đã được khẳng định là nguyên nhân tiên phát của UTCTC. Các phương pháp dự phòng và kiểm soát ung thư cổ tử cung đã được Tổ chức Y tế thế giới khuyến cáo và nhiều quốc gia trên thế giới triển khai bao gồm dự phòng cấp 1, cấp 2 và cấp 3[3], [21].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá hiệu quả can thiệp phòng lây nhiễm HPV ở phụ nữ có chồng tại Hải Dương và Phú Thọ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các biện pháp can thiệp nhằm giảm thiểu lây nhiễm virus HPV trong cộng đồng phụ nữ. Nghiên cứu này không chỉ đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng ngừa mà còn chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến sự thành công của các can thiệp này. Độc giả sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức và giáo dục sức khỏe trong việc phòng ngừa bệnh tật, từ đó góp phần bảo vệ sức khỏe sinh sản cho phụ nữ.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo bài viết Luận án thực trạng kháng kháng sinh của một số vi khuẩn thường gặp ở cộng đồng và một số yếu tố liên quan ở việt nam năm 2018 2019, nơi phân tích tình hình kháng thuốc trong cộng đồng. Ngoài ra, bài viết Luận văn nghiên cứu tỷ lệ nhiễm ba bệnh ký sinh trùng truyền lây giữa động vật và người tại huyện bắc yên tỉnh sơn la cũng sẽ cung cấp thông tin hữu ích về các bệnh truyền nhiễm khác. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận án nghiên cứu một số đặc điểm cận lâm sàng kiểu gen của hbv và hcv ở người nghiện ma túy tại trung tâm cai nghiện thành phố hồ chí minh, giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh lây nhiễm trong cộng đồng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và nâng cao nhận thức về sức khỏe cộng đồng.