ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chất lượng cuộc sống của con người được tăng lên. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất và sinh hoạt của con người làm cho môi trường bị ô nhiễm, con người phải đối mặt với nhiều căn bệnh hiểm nghèo.Trong hành trình tìm kiếm các hợp chất mới có hoạt tính sinh học cao, các nhà khoa học đã khám phá rất nhiều điều thú vị từ thiên nhiên. Trong những năm gần đây, xu hướng sử dụng thuốc có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng cao. Chính vì thế mà việc nghiên cứu các chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao để ứng dụng trong dược liệu, thực phẩm là một xu thế được các nhà khoa học quan tâm.
Việt Nam có khoảng 3260 km bờ biển với nhiều loài thực vật ở các vùng sinh thái ven biển khác nhau. Trong điều kiện địa lý khắc nghiệt như môi trường đất cát, yếm khí, nhiều côn trùng, thường xuyên ngập triều vv.các loài cây ngập mặn ven biển đã trải qua quá trình sinh tổng hợp đặc biệt tạo ra nhiều hợp chất có cấu trúc phong phú và có hoạt tính sinh học cao. Các loài thực vật ngập mặn với các hoạt tính sinh học như chống oxy hóa, gây độc tế bào, chống tăng sinh tế bào, diệt côn trùng, chống sốt rét, kháng nấm, tiêu chảy vv. Đó cũng lý do lý giải các loài thực vật ở đây rất có tiềm năng để ứng dụng tạo sản phẩm hỗ trợ sức khỏe cũng như thuốc để phòng và chữa bệnh.
Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay các công trình nghiên cứu thăm dò về hoạt tính sinh học và thành phần hóa học của các loài cây ngập mặn đã được ứng dụng trong dân gian để làm thuốc còn rất ít. Chính vì vậy, với mong muốn phát hiện các chất có cấu trúc hóa học và hoạt tính sinh học lý thú từ các loài ngập mặn ven biển đã được người dân sử dụng làm thuốc nhưng chưa được nghiên cứu nhiều về mặt hóa học cũng như hoạt tính sinh học.Rừng ngập mặn Cần Giờ là một trong những rừng có hệ sinh thái phong phú, hệ thực vật trong rừng ngập mặn Cần Giờ có khoảng 35 loài thuộc 36 chi, 24 họ. Bên cạnh Đước đôi (Rhizophora apiculata) là loài cây được trồng chính sau khi khôi phục rừng ngập mặn, còn có một số loài cây tái sinh tự nhiên chủ yếu thuộc các họ như họ Đước (Rhinophoraceae), họ Mấm (Avicenniaceae), họ Xoan (Meliaceae), họ Sú (Aegicerataceae) v.v… 1 Trong số đó có nhiều loài chứa các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao như hợp chất phorbol ester từ lá và thân của cây Giá (Excoecaria agallocha L.) có tác dụng kháng HIV; các polysaccharide từ lá của cây Vẹt trụ ((Bruguiera cylindrica (L.) Blume), cây Giá (Excoecaria agallocha L.), cây Đước đôi (Rhizophora apiculata Bl.), cây Sam biển (Sesuvium portulacastrum L.) có hoạt tính kháng HIV; các hợp chất benzoxazolin mà dẫn xuất đường ribose của nó cho thấy có hoạt tính kháng ung thư và kháng virus được cô lập từ cây Ô rô (Acanthus illicifolius L.); hai hợp chất 5- O-methylembelin và 5-O-ethylembelin cô lập từ thân và cành của cây Sú (Aegiceras corniculatum) có hoạt tính ức chế một số dòng tế bào ung thư như HL-60, Bel 7402, Hela, U937. Các triterpenoid từ cây Đước đỏ (Rhizophora mangle) có khả năng kiểm soát bệnh đái tháo đường.[10] Ngày nay, những tác hại các gốc tự do bị oxy hóa ảnh hưởng đến sức khỏe của con người cũng đang rất được quan tâm.
Gốc tự do làm thoái hóa các tế bào và làm giảm sản xuất các chất dẫn truyền thần kinh, ảnh hưởng đến sự điều hòa vận động của cơ thể, gây ra bệnh Parkinson…Để ngăn chặn các gốc tự do bị oxy hóa chỉ cần cung cấp các hợp chất cần thiết để trung hòa các gốc tự do và dọn dẹp các chất độc hại trong tế bào. Từ đó, giảm hiện tượng xơ vữa, giúp giãn mạch não, làm giảm cholesterol và ngăn ngừa huyết khối hiệu quả. Xuất phát từ cơ sở khoa học như trên, đề tài : “Sàng lọc một số cây dược liệu có khả năng kháng oxy hóa được trồng tại rừng ngập mặn Cần Giờ và nghiên cứu quy trình sản xuất trà túi lọc có khả năng kháng oxy hóa. Với tiêu chí đặt ra là công tác nghiên cứu không làm ảnh hưởng tới hệ sinh thái của rừng ngập mặn do đó chỉ thu hái lá trưởng thành của cây này để làm đối tượng nghiên cứu.
• Mục tiêu nghiên cứu: - Sàng lọc một số cây dược liệu có khả năng kháng oxy hóa được trồng tại rừng ngập mặn Cần Giờ - Nghiên cứu quy trình sản xuất trà túi lọc có khả năng kháng oxy hóa. 2 PHẦN I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Tổng quan về cây Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) 1. Phân loại - Họ: Bàng (Combretaceae) - Chi: Lumnitzera - Loài: Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) 1. Đặc điểm hình thái Cây ưa sáng, mọc trên đất bối tụ ven sông biển nơi ngập nước nhiều trung bình từ Bắc vào Nam.
Tái sinh chồi và tái sinh hạt đều tốt, thích nghi với nhiều loại độ mặn khác nhau. Hoa tháng 4 - 2. Quả tháng 8 - 10. Cây gỗ nhỏ hay bụi, cao đến 10 m, vỏ thân màu nâu với nhiều vết nứt nhỏ.
phân cành nhánh nhiều, cành non không lông, không có rễ hố hấp Lá đơn, mọc cách, dài 6 cm, rộng 2 cm, dày, giòn, phiến hình trứng, đầu lá tròn đến xẻ giữa, gân không rõ. Hoa trắng nhỏ, tạo thành chùm ngắn 6 – 12 hoa ở nách lá và ngọn cành; có 5 đài, 5 cánh hoa; 10 nhị dài bằng cánh hoa. Quả hình trứng hay hình thoi, dài 1 cm, rộng 0,4 cm, có cuống ngắn đỉnh mang các đà vòi và lá bắc tồn tại, một hạt dài 3 – 4 mm, rộng 1,2 mm. Hoa: cụm hoa dạng bống ở nách lá và đầu cành mang rất ít hoa, cuống chung dài 2 – 6 cm, hoa lưỡng tính, màu trắng, hoa có hương thơm, cao thừ 1 - 1,5 cm, cuống rất ngắn.
Lá bắc nhỏ, sớm rụng. Hoa mẫu 5, cánh đài hợp thành ống trên, xẻ 5 thùy hình tam giác, cao khoảng 2 mm, có răng tuyến. Cánh tràng 5, màu trắng ngà, nhẵn, hình bầu dục dài 3 – 4 mm. Nhị 10, dài bằng cánh tràng, bao phấn đính ngang có mũi nhọn, bầu hạ 5 mm, lô 4 noãn, vòi thuôn dài 4 – 5 mm 3 Hình 1.
Cây Cóc trắng (Lumnitzera racemosa) Nguồn: vi. Hoạt tính sinh học Theo truyền thống, nhựa cây của cây này được sử dụng để điều trị ngứa da, mụn rộp, ghẻ và bệnh tưa miệng [14]. Các nghiên cứu dược lý của các chất chiết xuất từ L. racemosa đã chứng minh các hoạt động kháng khuẩn, kháng nấm, hạ huyết áp, chống oxy hóa, gây độc tế bào và bảo vệ gan[34].
Hoạt động bảo vệ gan của lá L. racemosa được thực hiện trên chuột, chia thành các nhóm khác nhau với các nồng độ khác nhau và được thực hiện trong vòng 9 ngày và được phân tích vào ngày thứ 10. Điều này cho thấy, các chỉ tiêu cần xác định ở chuột thí nghiệm và chuột đối chứng có sự thay đổi khác nhau rõ rệt.2 Tổng quan về cây Giá (Excoecaria Agallocha) 1. Phân loại - Họ: Thầu dầu ( Euphorbiaceae) - Chi: Excoecaria - Loài: Giá ( Excoecaria Agallocha) 1.
Đặc điểm hình thái Là cây nhỡ hay cây bụi có mủ nhựa trắng. Hoa nở tháng 6 đến tháng 12 Lá mọc so le, xoan, bầu dục, tù ở gốc, có mũi lồi ngắn, hơi lệch và tù, nguyên, dai, dài 5 – 8 cm, rộng 2,5 - 4,5 cm, bóng loáng ở mặt trên, mốc mốc ở mặt dưới, với hai tuyến ở gốc; cuống mảnh, dài 2 cm. 4 Hoa khác gốc, thành bông ở nách lá; các bông đực nhiều hoa, dài 2 – 8 mm; các bông cái thưa, dài 10 – 15 mm, có khi có hoa đực ở ngọn.Rễ có khả năng đâm sâu vào lớp mùn dày. Quả nang có cuống ngắn 2 – 3 mm, hình cầu, có 3 cạnh; đường kính 1 cm; hạt 3, hình cầu, 4 mm, màu xám nhạt.
Cây Giá (Excoecaria Agallocha) Nguồn: vi. Hoạt tính sinh học Cao chiết từ lá cây giá có hoạt tính kháng virus có ý nghĩa đối với virus thể khám ở thuốc lá. Chất phorbol ester 12 - deoxyphorbol 13 - (3E , SE - decadienoat) phân lập từ lá và thân cây giá thể hiện hoạt tính kháng HIV.[22] Chiết xuất lá cây giá được coi là an toàn, có LD50 là 2,12g/kg liều uống và 3,12mg/kg liều trong phúc mạc. Chiết xuất này được nghiên cứu chứng minh tác dụng chống co giật trên mô hình thực nghiệm.
Người ta thường dùng nhựa, hoặc bột lá cây giá làm thuốc duốc cá. Nhựa mủ được dùng chứa loét mạn tính; có nơi còn kết hợp với nhựa sui để tẩm tên độc. Nhựa mủ cũng được dùng để trị vết thương ở của người và động vật. Lá tươi giã đắp trị các vết loét.
Dịch là nấu với dầu dùng xoa đắp trị bệnh phong, thấp khớp và liệt. thực hiện hoạt động chống oxy hóa của bột khô Excoecaria agallocha bằng các mô hình chống oxy hóa khác nhau như giảm sức mạnh, hoạt động quét gốc tự do 1,1-diphenyl-2-picryl-hydrazil (DPPH•) và đo lường tổng hoạt tính chống oxy hóa. Kết quả cho thấy, nước và ethanol chưng cất phân số có hoạt động chống oxy hóa cao so với các phân số khác như hexane, chloroform và ethyl acetate. Năm 2012, Patra và cộng sự[30].
báo cáo hoạt động chống oxy hóa của phần sắc ký lớp mỏng của Excoecaria agallocha , lá cho thấy hoạt động quét gốc 23,36% DPPH• ở nồng độ 40 Pha. Hoạt tính kháng khuẩn được đánh giá bởi Varaprasad Bobbarala và cộng sự[41]. trên chiết xuất hexane, chloroform và metanol của lá Excoecaria agallocha .Kết quả cho thấy chiết xuất methanol trưng bày hoạt động cao hơn so với hexane và chloroform. Babuselvam và cộng sự[8], nghiên cứu tính chất viêm cấp tính của ethanol trong nước (3: 1), (v:v) chiết xuất từ các bộ phận khác nhau như mủ, lá và hạt của E.
agallocha cho thấy hoạt động có ý nghĩa thống kê với liều 500 mg / kg trong mô hình phù chân chuột gây ra bởi carrageenan ở 4 giờ so với đối chứng gây ra sự ức chế lần lượt 63,15%, 62,15% và 69,69% ở mủ, lá và hạt. Hoạt động chống loét của lá E. agallocha đã được nghiên cứu trong thuốc chống viêm không steroid gây loét ở chuột, kết quả cho thấy chiết xuất từ lá làm tăng khả năng bảo vệ niêm mạc ở vùng dạ dày cũng như có thể làm giảm độ axit[23]. Năm 2011, Patil và cộng sự[30] báo cáo hoạt động chống ung thư sử dụng xét nghiệm MTS in vitro trên phần chiết xuất ethanol của thân cây E.