ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển của Y học hiện đại (YHHĐ) trong những thập kỷ gần đây, Y học cổ truyền (YHCT) vẫn đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong hệ thống y tế và góp một phần không nhỏ trong công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân.YHCT ngày càng trở nên phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới ngay cả ở các nƣớc tiên tiến,nơi có nền YHHĐ rất phát triển.Tỷ lệ ngƣời sử dụng YHCT ngày càng tăng, đem lại những hiệu quả to lớn trong CSSK và hiệu quả kinh tế [28]. Y học cổ truyền là một bộ phận quan trọng và thƣờng chƣa đƣợc đánh giá đúng mức trong dịch vụ y tế. Ở một vài nƣớc, Y học cổ truyền hay y học phi chính thống có thể đƣợc gọi là y học bổ sung (YHBS). Y học cổ truyền từ lâu đã đƣợc sử dụng để duy trì sức khỏe, dự phòng và điều trị bệnh, nhất là bệnh mạn tính [44].
Tại Việt Nam, YHCT là thành phần không thể thiếu trong hệ thống y tế, có vai trò và tiềm năng phát triển to lớn.YHCT Việt Nam có từ lâu đời, cội nguồn là những kinh nghiệm dân gian hình thành qua quá trình đấu tranh sinh tồn với bệnh tật, đƣợc lƣu truyền và liên tục đƣợc bổ sung bởi kinh nghiệm của các thế hệ, đƣợc soi sáng bởi nền tảng lý luận vững chắc, đang ngày càng một hoàn thiện và khoa học hơn, khẳng định đƣợc vị trí và vai trò trong CSSK. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu gần đây cho thấy, việc sử dụng YHCT trong điều trị tại tuyến y tế cơ sở còn thấp. Trên thực tế việc triển khai những chủ trƣơng của Đảng, Nhà nƣớc và Ngành Y tế về phát triển YHCT vẫn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là ở các trạm y tế xã, nơi vùng sâu, vùng xa. Quận Ninh Kiều, nơi có tiềm năng phát triển về YHCT.
Do đặc điểm địa hình, nguồn dƣợc liệu đa dạng phong phú, YHCT của quận đã có truyền 2 thống phát triển từ lâu đời. mặc dù vậy tỷ lệ ngƣời dân đến khám chữa bệnh bằng YHCT tại các TYT còn xa mới đạt đƣợc mục tiêu chiến lƣợc đề ra đến năm 2020 tuyến xã đạt tỷ lệ 40% theo Quyết định số 2166/QĐ-TTg [28]. Để đạt đƣợc mục tiêu của chiến lƣợc Quốc gia về YHCT, cần có những nghiên cứu đánh giá về tình hình khám chữa bệnh YHCT tại tuyến y tế cơ sở, cho đối tƣợng là bệnh mãn tính, qua đó giúp cho những nhà quản lý có những kế hoạch phát triển YHCT một cách tổng thể, phù hợp với hoàn cảnh của từng địa phƣơng.Câu hỏi đặt ra là tại sao ngƣời dân lại ít sử dụng YHCT, đặc biệt là tại các TYT? Làm thế nào để tăng cƣờng việc sử dụng YHCT của ngƣời dân? Tại quận Ninh Kiều cho đến nay vẫn chƣa có một nghiên cứu nào đánh giá về tình hình khám chữa bệnh YHCT tại các TYT trong đó có các bệnh mãn tính thƣờng gặp nhƣ viêm khớp, Di chứng TBMMN, để tìm ra giải pháp phù hợp, duy trì phát triển YHCT theo đúng chỉ tiêu đặt ra. Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu tình hình sử dụng thuốc y học cổ truyền điều trị các bệnh lý về khớp và di chứng mạch máu não tại các Trạm y tế của quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ năm 2018”, với 3 mục tiêu cụ thể nhƣ sau: 1.
Xác định tỷ lệ ngƣời dân đến điều trị bệnh về khớp và di chứng mạch máu não tại các Trạm y tế của quận Ninh Kiều năm 2018 2. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến sử dụng thuốc YHCT điều trị bệnh về khớp và di chứng mạch máu não tại các Trạm y tế của quận Ninh Kiều năm 2018 3. Đánh giá kết qủa điều trị bằng thuốc YHCT trên bệnh về khớp và di chứng mạch máu não tại các Trạm y tế của quận Ninh Kiều năm 2018. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm về YHCT Theo Tổ chức Y tế thế giới, Y dƣợc học cổ truyền (YDHCT) là những kiến thức, thái độ và phƣơng pháp thực hành trong y học liên quan đến những thuốc lấy từ thực vật, động vật hay khoáng vật, các liệu pháp tinh thần, để áp dụng chẩn đoán và điều trị cũng nhƣ ngăn ngừa bệnh tật hoặc duy trì sức khỏe con ngƣời. Việc sử dụng và đƣa thuốc y học cổ truyền (YHCT) vào chăm sóc sức khỏe (CSSK) nhân dân đã và đang là vấn đề đƣợc cả nƣớc quan tâm [20]. Một số định nghĩa về thuốc YHCT + Dƣợc liệu là một nguyên liệu có nguồn gốc từ thực vật, động vật hay khoáng vật đƣợc dùng để làm thuốc. + Nguyên liệu làm thuốc là chất tham gia vào thành phần cấu tạo sản phẩm trong quá trình sản xuất thuốc.
+ Thuốc thành phẩm là dạng thuốc đã qua tất cả các giai đoạn sản xuất, kể cả đóng gói trong bao bì cuối cùng và dán nhãn. + Thuốc từ dƣợc liệu là thuốc đƣợc sản xuất từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng vật. + Thuốc có hoạt chất tinh khiết đƣợc chiết xuất từ dƣợc liệu, thuốc có sự kết hợp dƣợc liệu với các hoạt chất hóa học không gọi là thuốc từ dƣợc liệu. Biệt dƣợc là thuốc có tên thƣơng mại do cơ sở sản xuất thuốc đặt ra, khác với tên gốc hoặc tên chung quốc tế [32].
Những đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, nhà nƣớc và ngành y tế về vai trò phát triển YHCT trong CSSK nhân dân YHCT Việt Nam với truyền thống lâu đời với bề dày kinh nghiệm và đóng vai trò chính trong CSSK cho nhân dân trong suốt thời kỳ lịch sử dân tộc. Hiện nay, YHCT vẫn là một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống y tế quốc gia. Ngay từ những ngày đầu thành lập nƣớc, Đảng và Chính phủ đã có chủ trƣơng kết hợp hai hệ thống YHHĐ và YHCT. Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong thƣ gửi cán bộ nhân viên ngành Y tế ngày 27/2/1995 đã viết “Ông cha ta ngày trƣớc có nhiều kinh nghiệm quý hóa về cách chữa bệnh bằng thuốc ta, thuốc bắc.
Để mở rộng phạm vi y học, các cô các chú cũng nên chú trọng nghiên cứu và phối hợp thuốc Đông và thuốc Tây” [43]. Có thể nói đây là tƣ tƣởng chỉ đạo để đề ra đƣờng lối chủ trƣơng xây dựng nền Y học Việt Nam phù hợp với thực tiển và trên cơ sở khoa học. Từ năm 1955, Việt Nam đã đƣa YHCT vào mạng lƣới y tế chung nhằm CSSK cho ngƣời dân. Kết quả đến nay cả nƣớc có 61 bệnh viện YHCT, riêng mạng lƣới YHCT công lập tại thành phố Cần Thơ thì đến cuối năm 2013 có 01 bệnh viện YHCT thành phố, 09 bệnh viện có khoa hoặc tổ YHCT, 01 khoa YHCT bệnh viện Quân y 121, 01 bộ môn YHCT tại Trƣờng Đại học Y dƣợc Cần Thơ, 01 khoa YHCT bệnh viện Đa khoa Trung ƣơng và có 85 trạm y tế xã phƣờng hoạt động khám chữa bệnh bằng YHCT và có vƣờn thuốc nam.
Một số văn bản quan trọng, có tính chất định hướng lâu dài công tác YHCT trong các thời kỳ như sau: - Ban hành chế biến vị thuốc theo phƣơng pháp cổ truyền, và danh mục thuốc thiết yếu Việt nam lần thứ V [19]. - Ban hành thông tƣ 40/2013 danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ dƣợc liệu lần thứ VI [9]. 5 - Phát triển nền Đông y Việt Nam và Hội Đông y Việt Nam trong tình hình mới [1]. - Nguyên tắc cơ bản để sản xuất thuốc từ dƣợc liệu [2], [4].
- Ban hành bộ tiêu chí quốc gia về y tế xã giai đoạn 2011 – 2020 [5]. - Ban hành hƣớng dẫn sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế có giƣờng bệnh [23]. - Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển y dƣợc cổ truyền đến năm 2020[28].Trong đó nêu rõ chỉ tiêu khám, chữa bệnh bằng y, dƣợc cổ truyền đến năm 2015 tuyến Trung ƣơng đạt 10%, tuyến tỉnh đạt 15%, tuyến huyện đạt 20%, tuyến xã đạt 30%. Đến năm 2020 tuyến Trung ƣơng đạt 14%, tuyến tỉnh đạt 20%, tuyến huyện đạt 25% và tuyến xã đạt 40%.
Nhu cầu sử dụng dƣợc liệu, thuốc đông y, thuốc từ dƣợc liệu phục vụ cho công tác khám, chữa bệnh bằng y, dƣợc cổ truyền là rất lớn [17]. Theo Thông tƣ 05/2014/TT-BYT ngày 14 tháng 2 năm 2014 là các dƣợc liệu vị thuốc y học cổ truyền đƣợc cung ứng vào cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phải có phiếu kiểm nghiệm [13]. Qua một số văn bản này thể hiện Đảng, Chính phủ đã có sự quan tâm lớn trong phát triển YHCT nhằm chăm sóc sức khỏe nhân dân đƣợc tốt nhất trên cơ sở các quan điểm chung về phát triển YHCT Việt Nam. Một số quan điểm chỉ đạo chung về phát triển YHCT qua các thời kỳ: - Phát triển nền Đông y Việt Nam vì mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, góp phần cải thiện và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực là trách nhiệm các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội.
- Phát triển nền Đông y Việt Nam là góp phần bảo tồn bản sắc, phát huy và phát triển một bộ phận văn hóa của dân tộc Việt Nam, thể hiện tinh thần độc lập và tự cƣờng của dân tộc Việt Nam. - Đƣợc bào chế theo lý luận và phƣơng pháp của y học cổ truyền [21]. 6 - Nghị quyết 46-NQ/TW của Bộ Chính trị cũng xác định: Thế mạnh của ngành dƣợc Việt Nam là dƣợc liệu và đề ra mục tiêu là “Xây dựng ngành Dƣợc Việt Nam thành ngành kinh tế - kỹ thuật mũi nhọn, lấy phát triển dƣợc liệu làm then chốt”. - Chỉ thị 03/CT-BYT ngày 24/2/2012 về tăng cƣờng quản lý cung ứng, sử dụng dƣợc liệu, thuốc đông, thuốc từ dƣợc liệu trong các cơ sở khám chữa bệnh bằng YHCT [8].
Tổng kết báo cáo công tác thực hiện chính sách quốc gia về y dƣợc cổ truyền [36]. Để đáp ứng nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân trong tình hình mới, Bộ Y tế đã ban hành danh mục thuốc y học cổ truyền chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh cũng nhƣ ban hành thông tƣ hƣớng dẫn triển khai áp dụng các nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt trồng trọt và thu hái cây thuốc” theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới [20], [23] Tổng kết 8 năm thực hiện chính sách quốc gia về y dƣợc cổ truyền Việt Nam [7].