mở đầu cho việc nghiên cứu hệ thực vật cụ thể (dẫn theo Từ Minh Tiệp, 2000)[40]. Đối với từng châu lục, G. - Châu Mỹ có khoảng 97.000 loài trong đó: Hoa Kỳ + Canada: 25.000 loài; Mehico + Trung Mỹ: 17.000 loài; Nam Mỹ: 56.000 loài; Đất lửa + Nam cực: 1. - Châu Âu có khoảng 15.000 loài trong đó: Trung và Bắc Âu: 5.000 loài; Nam Âu, vùng Ban căng và Capcasơ: 10.
- Châu Phi có khoảng 40.500 loài trong đó: các vùng nhiệt đới ẩm: 15.000 loài; Nam Phi: 6.500 loài; Bắc Phi, Angieri, Ma Rốc và các vùng phụ cận khác: 4.000 loài; Tuynidi và Ai cập: 2.000 loài; Xomali và Eritrea: 1.000 loài trong đó: Đông Nam Á: 80.000 loài; các khu vực nhiệt đới Ấn Độ: 26.000 loài; Viễn đông thuộc Liên bang Nga, Triều Tiên, Đông bắc Trung Quốc: 6.000 loài; Xibêria thuộc Liên bang Nga, Mông Cổ và Trung Á: 5.000 loài trong đó: Đông Bắc Úc: 6.000 loài; Tây Nam Úc: 5.500 loài; Lục địa Úc: 5.000 loài; Taxman và Tây tây lan: 4. Lecointre và Guyader (2001) [20] đưa con số thống kê số loài thực vật bậc cao đã được mô tả trên toàn thế giới gồm có Nấm (Fungi) có 100.800 loài, ngành Rêu (Bryophyta) 15.000 loài, ngành Thông đất (Lycopodiphyta) 1275 loài, ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) 9.500 loài, ngành Thông (Pinophyta) 601 loài và ngành Ngọc lan (Magnoliophyta) 233.1: Số loài thực vật được mô tả trên toàn thế giới % số loài Bậc phân loại Tên thường gọi Số loài mô tả đã được mô tả Fungi Nấm 100.800 5,80 Bryophyta Ngành Rêu 15.000 0,90 Lycopodiophyta Ngành Thông đất 1.275 0,07 Polypodiophyta Ngành Dương xỉ 9.500 0,50 Pinophyta Ngành Thông 601 0,03 Magnoliophyta Ngành Ngọc lan 233. Những nghiên cứu về đa dạng thành phần loài Có rất nhiều công tình nghiên cứu về đa dạng thành phần loài của các nhà khoa học trên thế giới như: Liên Xô (cũ) có các nghiên cứu của Vưsotxki (1915), Alokhin (1904), Craxit (1927), Sennhicốp (1933), Creepva (1978),… Theo các tác giả thì mỗi vùng sinh thái khác nhau sẽ hình thành những kiểu thảm thực vật khác nhau. Sự khác biệt này được thể hiện bởi thành phần loài, nhóm dạng sống, cấu trúc và động thái của thảm thực vật.
Vì vậy, nghiên cứu thành phần, dạng sống của hệ thực vật là chỉ tiêu quan trọng trong phân loại thảm thực vật [29]. n 15 Ramakrishman (1981 – 1992) nghiên cứu thảm thực vật sau nương rẫy ở vùng Tây bắc Ấn Độ đã nhận định rằng chỉ số đa dạng loài rất thấp, chỉ số loài ưu thế đạt cao nhất ở pha đầu của quá trình diễn thế và giảm dần theo thời gian bỏ hoá. Longchun và cộng sự (1993), nghiên cứu về đa dạng thực vật ở hệ sinh thái nương rẫy tại Xishuang Bana tỉnh Vân Nam Trung Quốc đã nhận xét: khi nương rẫy bỏ hoá được 3 năm thì có 17 họ, 21 chi, 21 loài; bỏ hoá 19 năm thì có 60 họ, 134 chi và 167 loài [45]. Những nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống Dạng sống là một đặc tính biểu hiện sự thích nghi của thực vật với điều kiện môi trường.
Vì vậy, việc nghiên cứu dạng sống sẽ cho thấy mối quan hệ chặt chẽ của các dạng sống với điều kiện tự nhiên của từng vùng và biểu hiện sự tác động của điều kiện sinh thái đối với loài thực vật. Bảng phân loại dạng sống cây thuộc thảo đã được lập ra lần đầu tiên bởi Canon (1911). Với cây thảo, đặc điểm phần dưới đất đóng vai trò rất quan trọng trong phân chia dạng sống, nó biểu thị mức độ khắc nghiệt khác nhau của môi trường sống, là phần sống lâu năm của cây. Vì thế việc sử dụng phần dưới đất để làm tiêu chuẩn phân chia dạng sống sẽ giúp cho ta đánh giá đúng hơn kiểu thảm, những đặc điểm đặc trưng của môi trường [12].
Patsoxki (1915) chia thảm thực vật thành 6 nhóm: thực vật thường xanh; thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm; thực vật tàn lụi phần trên mặt đất trong thời kỳ bất lợi; thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển ngắn; thực vật có thời kỳ sinh trưởng và phát triển lâu năm. Raunkiaer (1934) [50] chọn vị trí của chồi nằm ở đâu trên mặt đất trong suốt thời gian bất lợi trong năm để phân chia dạng sống thực vật. Tác giả đã tính n 16 toán cho hơn 1.000 loài cây ở các vùng khác nhau trên trái đất và tìm được tỷ lệ % trung bình cho từng loài, gộp lại thành phổ dạng sống tiêu chuẩn (ký hiệu SN) Ph Ch Hm Cr Th 46 9 26 6 13 Hay SN = 46 Ph + 9 Ch + 26 Hm + 6 Cr + 13 Th Xêrêbriacốp (1964) [49] đưa ra bảng phân loại dạng sống khác có tính chất sinh thái học hơn so với bảng phân loại của Raunkiaer. Trong bảng phân loại này, ngoài những dấu hiệu hình thái sinh thái ông đã sử dụng cả những dấu hiệu về vận hậu như ra quả nhiều lần hay một lần trong cả đời của cá thể và phân chia thành các bậc: ngành, kiểu, lớp và lớp phụ; các đơn vị nhỏ hơn là nhóm, nhóm phụ, tổ và các dạng đặc thù.
Bảng phân loại này không gồm cây thuỷ sinh. Như vậy, khi nghiên cứu hệ thực vật ở một khu vực cụ thể, các tác giả đều phân chia và sắp xếp các loài thực vật thành các nhóm dạng sống tùy theo tiêu chí của từng tác giả. Trong số đó thì hệ thống phân loại của Raunkiaer vừa đảm bảo tính khoa học vừa dễ áp dụng vì nó dựa trên những đặc điểm cơ bản của thực vật, nghĩa là dựa trên đặc điểm cấu tạo, phương thức sống của thực vật, đó là kết quả tác động tổng hợp của các yếu tố môi trường tạo nên. Tình hình nghiên cứu thực vật quý hiếm Trên thế giới, tổng số loài thực vật hiện nay có nhiều biến động và chưa cụ thể.
Tùy từng tác giả do chưa có sự nghiên cứu và điều tra đầy đủ. Các nhà thực vật học dự đoán số loài thực vật bậc cao hiện có trên thế giới vào khoảng 500. Phêđôrốp đã dự đoán trên thế giới có khoảng 300.000 loài thực vật hạt kín; 5.000 loài thực vật hạt trần; 6.000 loài quyết thực vật; 14.000 loài nấm và thực vật bậc thấp khác. Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, do những nguyên nhân khác nhau, nhiều loài thực vật đã bị tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng, các nguồn tài n 17 nguyên sinh học không ngừng bị suy giảm.
Để nâng cao nhận thức trong xã hội và toàn cộng đồng về tính cấp thiết của việc bảo tồn đa dạng sinh học và tạo cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn, từ năm 1964 Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên thế giới đã cho xuất bản các bộ sách đỏ nhằm cung cấp một cách khoa học và có hệ thống danh sách về tình trạng bảo tồn và đa dạng của các loài động vật và thực vật có nguy cơ tuyệt chủng trên thế giới. Năm 1994, IUCN đã đề xuất những thứ hạng và tiêu chuẩn mới cho việc phân hạng tình trạng các loài động vật, thực vật bị đe dọa trên toàn thế giới. Các thứ hạng và tiêu chuẩn của IUCN được cụ thể hóa như sau: Loài tuyệt chủng (EX), loài rất nguy cấp (CR), loài nguy cấp ( EN), loài sẽ nguy cấp (VU),…Năm 2004 Sách Đỏ IUCN công bố văn bản đánh giá các loài động thực vật gọi là (sách đỏ năm 2004) vào ngày 17 tháng 11 năm 2004. Văn bản này đã đánh giá tất cả 38.047 loài, cùng với 2.140 phân loài, giống, chi và quần thể.503 loài nằm trong tình trạng nguy cơ tuyệt chủng gồm 7.180 loài động vật, 8.321 loài thực vật và 2 loài nấm.
Danh sách cũng công bố 784 loài tuyệt chủng được ghi nhận từ năm 1500. Như vậy là đã có thêm 18 loài tuyệt chủng so với bản danh sách năm 2000. Mỗi năm một số ít các loài tuyệt chủng lại được phát hiện và sắp xếp vào nhóm DD. Ví dụ, Trong năm 2002 danh sách tuyệt chủng đã giảm xuống 759 trước khi tăng lên như hiện nay [6],[5].
- Công tác bảo tồn trên thế giới đã được chú trọng từ rất lâu, đặc biệt là các nước phát triển, các vườn quốc gia khu bảo tồn đã được thành lập từ rất sớm. Ở Mỹ đã có nhiều vườn quốc gia được thành lập từ rất sớm như: + Vườn quốc gia Yellowstone là một vườn quốc gia Hoa Kỳ được thành lập ngày 01 tháng 3 năm 1872, đây là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới. Yellstone nổi tiếng với các loài động, thực vật hoang dã quý hiếm. Với diện tích 8.980 km2 bao gồm các hồ, vực, sông và các dãy núi.
Khu vực này tồn tại hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa. Bao gồm một số loài nguy cấp như sói xám, các loài bị đe dọa như gấu xám, bò Bizon, Gấu đen, Nai sừng tấm, Nai antext, Hươu đuôi đen, Dê núi, Linh dương sừng tỏa, Cừu sừng to và sư tử núi. Hệ thực vật ở đây cũng đa dạng và phong phú. Trong vườn quốc gia có 1.700 loài gỗ và các n 18 dạng thực vật có mạch khác là cây cây bản địa, khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa.
Các rừng thông chiếm 80% tổng diện tích, các loài cây lá kim khác nhau như: Linh sam cận núi cao, vân sam Engelmann, Linh sam Douglas núi Rocky và thông vỏ trắng tồn tại thưa thớt. Tại đây còn có loài cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ thấy tại Yellowstone. Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị ở đây.000 cụm loài hoa hiếm này sống trên các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước [8],[15]. + Công viên quốc gia lịch sử Olympic thuộc Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1938.
Năm 1981 công viên quốc gia lịch sử Olympic đã được đặt theo tên một trang web Di sản thế giới công nhận vẻ đẹp tự nhiên của nó và sự đa dạng đặc biệt xuất sắc của động thực vật. Nằm ở phía tây bắc của tiểu bang Washington, Olympic vườn quốc gia nổi tiếng về sự đa dạng hệ sinh thái của nó. 11 hệ thống sông chính của dãy núi Olympic, cung cấp một môi trường sống tốt nhất cho loài cá anadromous quý hiếm [8],[15]. - Cũng như nước Mỹ, nước Nga cũng nổi tiếng với các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên, là nơi lưu trữ và bảo tồn hàng ngàn các loài động thực vật quý hiếm trên thế giới như: + Vườn quốc gia Taiga ở Nga chủ yếu là cây lá kim, với các loài chiếm đa số là thông rụng lá, vân sam, linh sam và thông.