CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Giới thiệu chung về hoa lan Họ lan (Orchidaceae) là một họ thực vật có hoa, thuộc bộ lan (Orchidales) và lớp thực vật một lá mầm (Monocotyledoneae). Đây là một trong những họ thực vật lớn với khoảng 800 chi khác nhau, chúng phân bố trên toàn thế giới, trừ khu vực Nam Cực (Huang, Y. Li, và CS.
Họ lan bao gồm nhiều chi khác nhau, trong đó có chi lan kiếm và chi lan hài. Luận văn tập trung vào nghiên cứu về chi lan kiếm. Chi lan kiếm (Cymbidium) phân bố rộng rãi tại Đông Nam Á, và các loài trong chi này thường có hoa lớn, đẹp, và bền. Chúng thường sống cùng với cây mục khác hoặc trên các khe đá có mùn, do đó thường được gọi là địa lan.
Dựa theo dữ liệu đã được công bố, chi lan kiếm trên toàn thế giới có khoảng 120 loài, trong đó có 52 loài tại châu Á và 24 loài tại Việt Nam (Averyanov, L. Các nghiên cứu gần đây về lan kiếm đã chỉ ra rằng các loài trong chi lan kiếm thường có bộ NST 2n = 2x = 40 (Chung, O. Đặc điểm thực vật học, phân loại và phân bố của chi địa lan kiếm bản địa 1. Phân loại Chi lan kiếm (Cymbidium) thuộc họ lan (Orchidaceae), bộ măng tây (Asparagales), lớp thực vật một lá mầm (Monocotyledoneae), và ngành thực vật hạt kín (Mongoliophyta).
Tại Việt Nam, đã được ghi nhận tồn tại 24 loài thuộc chi lan kiếm (Arif, I., Bakir, và cs. Theo nghiên cứu của giáo sư Trần Duy Quý, trong số 24 loài lan kiếm tại Việt Nam, có 13 loài sống cùng với cây, 5 loài thường mọc trên mặt đất hoặc bám vào đá, 5 loài có khả năng tồn tại trên cây hoặc trên đá, và có 1 loài không phát triển lá và tồn tại chủ yếu trong mùn nhờ vào hệ thống rễ phát triển mạnh (Trần Duy Quý, 2005). Phân bố Chi lan kiếm (Cymbidium) có sự phân bố rộng khắp trên toàn thế giới, từ Triều Tiên, Nhật Bản, Trung Quốc, dãy núi Himalaya, Philippines, Đông Nam Á, Tân Ghi Nê cho đến Australia. Các loài trong chi này thể hiện sự đa dạng và phong phú trong hình thái, thích nghi với điều kiện địa hình khác nhau.
Theo báo cáo, chi lan kiếm thường được tìm thấy ở độ cao từ 1500 đến 2000 mét so với mực nước biển (Brieger, F. Châu Á đóng vai trò quan trọng trong việc phân bố chi lan kiếm, với khoảng 52 loài tập trung chủ yếu ở các khu vực có khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới. Trong số này, Trung Quốc nổi bật với sự đa dạng vượt trội, đặc biệt là ở các thảm rừng núi của 16 tỉnh miền Trung và Nam Trung Quốc. Trong lãnh thổ này, có tổng cộng 49 loài chi lan kiếm, trong đó có 19 loài độc đáo (Brieger, F.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu điều tra đã xác định tồn tại 6 khu vực phân bố chính cho chi lan kiếm, gồm (1) khu vực phía Tây Bắc Bộ, (2) khu vực phía Đông Bắc Bộ và trung tâm Bắc Bộ, (3) khu vực Bắc Trung Bộ, (4) khu vực Trung Bộ, (5) khu vực Tây Nguyên, và (6) khu vực Nam Trung Bộ và Nam Bộ. Trong số này, chi lan kiếm chủ yếu phân bố tại vùng núi Đông Bắc và các tỉnh xung quanh như Quảng Ninh và Hưng Yên. Nguyên nhân chính của phân bố này có liên quan đến các điều kiện khí hậu thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển và sinh trưởng của các loài lan kiếm (Lưu Chấn Long, 2003). Đặc điểm thực vật học Lan kiếm được coi là một trong những loài lan phổ biến và hấp dẫn nhất trong họ lan, thường thu hút sự chú ý bởi vẻ đẹp tinh tế và mùi hương quyến rũ của hoa.
Thường thì hoa lan kiếm nở vào mùa đông (Matsuda, Y., 2019), mặc dù cũng có loài nở vào mùa xuân và mùa thu. Đáng chú ý, loài Cymbidium ensifolium thường nở vào các tháng 2, 6, 10, và 12. Hoa lan kiếm có sự đa dạng màu sắc, bao gồm màu trắng, xanh, vàng-xanh, 5 kem, vàng, nâu, hồng, và đỏ. Đặc biệt, một số loài có khả năng biến đổi màu theo thời gian trong ngày.
Điều đáng chú ý khác là hoa lan kiếm có tuổi thọ lâu, đẹp, có thể giữ được khoảng 10 tuần nhờ sự bảo vệ của lớp sáp trên bề mặt hoa, và thường có mùi thơm quyến rũ (Lưu Chấn Long, 2003). Các đặc điểm thực vật học của chi lan kiếm được thể hiện qua những đặc điểm này: Các củ lan thường nối với nhau thông qua một thân ngầm, và thân ngầm này thường là một phần ngắn. Các củ lan thực chất là các cành ngắn của thân ngầm, và khi chúng được tách ra khỏi củ già, chúng có khả năng phát triển thành các phần mới của thân ngầm. Từ những phần thân ngầm mới này, cây có thể phát triển ra những cây con.
Vì vậy, Cymbidium thường được phân loại vào nhóm lan đa thân (Trần Duy Quý, 2005). - Củ lan (hay còn gọi là giả hành) thường có hình dạng đa dạng như hình ô van, hình cầu, hình bầu dục, hoặc hình trứng v. Kích thước của củ lan có thể dao động từ 1 đến 10 cm và thường được bao phủ bởi các lớp lá xếp chồng lên nhau (Trần Duy Quý, 2005). - Rễ của lan có cấu trúc rất đặc biệt, thuộc loại rễ thịt, có hình dạng to và thô, thường có màu trắng ngà hoặc có một chút màu vàng nhạt bên trong.
Trong rễ lan, có một lõi chất gỗ dạng sợi ở phần trung tâm, và đây là điểm khác biệt quan trọng giữa lan và cỏ (Theo Lưu Chấn Long, 2003). - Lá: Lá của cây lan kiếm mang nhiều dạng khác nhau như dạng mũi kiếm, dạng dải, dạng phiến, và có thể có đầu lá nhọn hoặc song đỉnh, tùy thuộc vào loại cây. Kích thước của lá lan kiếm thay đổi rất lớn, với chiều rộng biến động từ 0,5 cm đến 6 cm và chiều dài từ 10 cm đến 150 cm. Lá thường mọc rộng và được xếp xít trên thân, đôi khi có thể rủ xuống hoặc xếp cách đều đặn trên thân.
Mỗi loài lan kiếm có thể có dạng phiến lá đặc trưng riêng biệt (Nguyễn Tiến Bân, 1997; Lưu Chấn Long, 2003). - Hoa: Cấu trúc cơ bản của hoa lan kiếm bao gồm 3 cánh đài và 2 cánh tràng, trong đó cánh môi thường có màu sắc sặc sỡ hơn, tạo nên vẻ đẹp thanh 6 nhã của hoa lan kiếm. Góc giữa của 3 cánh đài thường là 120 độ, tuy nhiên, một số loài có thể có biến dạng, với hai cánh tràng dưới nằm ngang 180 độ hoặc có thể hơi uốn lên. Nhánh hoa của lan kiếm, còn được biết đến với tên gọi “tiễn,” thường xuất phát thẳng từ thân của củ giả đã phát triển hoàn toàn.
Thông thường, mỗi phần thân củ giả chỉ mang một nhánh hoa, tuy nhiên, khi được chăm sóc đúng cách, có thể có thêm từ 2 đến 3 nhánh hoa phát triển. Số lượng hoa và màu sắc của hoa có sự biến đổi tuỳ thuộc vào từng loại cây, có thể từ 8 đến hơn 20 hoa trên một ngọn (Trần Duy Quý, 2005). Nhiều loài lan kiếm thường có cánh môi rộng, sặc sỡ về màu sắc, và chúng thường có các hình dạng độc đáo, phân biệt hoàn toàn với các cánh hoa khác. Ở phần trung tâm của hoa, tồn tại một đường gợn sóng được biết đến với tên “Đường dẫn mật,” thường bắt đầu từ phía ngoài của môi hoa và kéo dài tới phần trung tâm của bông hoa.
Phía trên của môi hoa, có một cột hoa, nằm ở trung tâm của hoa và chứa cả các bộ phận sinh sản đực và cái của hoa. Phấn hoa nằm ở gốc của cột hoa, và các hạt phấn hoa thường liên kết với nhau thông qua một chất sáp, hình thành các khối phấn hoa cứng. Mỗi bông hoa thường mang từ 2 đến 8 khối phấn. Phấn hoa nằm ở đỉnh cột hoa và được bảo vệ bởi một lớp màng bảo vệ được gọi là bao phấn (Trần Duy Quý, 2005).
Phân loại và phân bố các loài lan kiếm ở miền núi phía bắc Khu vực miền núi phía Bắc của Việt Nam bao gồm cả khu vực Đông Bắc và Tây Bắc, bao gồm các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang và Yên Bái. Miền núi phía Bắc có đặc điểm địa hình đa dạng với bốn cánh cung chính, gồm cánh cung Sông Gâm, cánh cung Ngân Sơn, cánh cung Bắc Sơn và cánh cung Đông Triều. Những cánh cung này hội tụ tại vùng Tam Đảo. Đây là khu vực với địa hình đồi núi chủ yếu, tuy nhiên, cũng có một số đỉnh núi cao vượt qua mốc 2000 mét, đặc biệt ở khu vực thượng nguồn sông Chảy.
Địa hình đồi núi giảm dần từ phía Tây Bắc xuống phía Đông Nam. Mặc dù nằm trong vùng 7 khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, nhưng do địa hình cao với nhiều dãy núi hình cánh cung ở phía Bắc và tập trung về Tam Đảo, vùng này thường trải qua mùa Đông với gió Bắc mạnh và lạnh, trong khi mùa Hè thì mát mẻ. Do đó, khu vực này thường có khí hậu cận nhiệt ẩm. Miền núi Đông Bắc nổi tiếng với thực vật đa dạng và phong phú, trong đó có nhiều loài lan kiếm quý hiếm.
Theo Trần Hợp, chiếm hơn 50% tổng số loài lan kiếm trong tự nhiên của Việt Nam trong những năm gần đây, các loài lan kiếm trong khu vực miền núi Đông Bắc bao gồm: Lan Kiếm lô hội (Cymbidium aloifolium (L.) Sw): Loài lan sống phụ sinh, đôi khi mọc trên đất, thường mọc thành bụi. Nguồn gen lan Kiếm lô hội phân bố ở độ cao từ 600 - 1000m, thời gian nở hoa là vào tháng 5 - 6 (Trần Hợp, 2007). Lan Kiếm Thanh ngọc (Cymbidium ensifolium (L.) Sw): Loài lan đất, mọc thành bụi dày, phân bố ở độ cao từ 500 - 1000m, thời gian nở hoa là vào tháng 2 - 3. Lan Trần mộng xuân (Cymbidium lowianum Rchb.): Loài lan đất, có thời gian nở hoa từ tháng 1 - 3.
Nguồn gen lan kiếm Trần mộng xuân phân bố ở độ cao khoảng 1400 - 1600m. Lan Kiếm Bạch ngọc (Cymbidium eburneum Lindl.): Lan sống phụ sinh, thường mọc trong các khu rừng già ở độ cao từ 1500 - 2000m. Thời gian nở hoa là từ tháng 10 - 11. Lan Kiếm Bạch ngọc Xuân (Cymbidium longifolium): Lan sống phụ hoặc có thể trồng dưới đất, thời gian nở hoa là từ tháng 1 - 3.
Lan Kiếm Bạch ngọc Xuân phân bố trong rừng già ẩm ướt ở độ cao từ 1200 - 1700m. Lan Kiếm Hồng Hoàng (Cymbidium iridioides D.Don): Loài lan sống phụ sinh, thường mọc trên vách đá hoặc trên các cây gỗ lớn.