ĐẶT VẤN ĐỀ Tre, trúc bao gồm các loài cây thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Hoà thảo (Poaceae). Việt Nam được coi là một trong những trung tâm quan trọng phân bố tự nhiên của các loài tre, trúc trên thế giới. Theo số liệu của tổng cục Lâm nghiệp tính đến cuối năm 2011, nước ta có khoảng hơn 1,3 triệu ha rừng tre nứa (gồm cả thuần loại và hỗn giao) [1]. Do có nhiều đặc tính quý nên tre nứa đã được sử dụng nhiều trong đời sống hàng ngày cũng như trong tiểu thủ công nghiệp và công nghiệp hiện đại.
Hiện nay đã thống kê được hơn 30 công dụng của tre nứa, trong đó những công dụng chính là làm hàng thủ công - mỹ nghệ, làm vật liệu xây dựng, làm nguyên liệu trong công nghiệp giấy sợi và sản xuất măng tre làm thức ăn tươi hoặc khô. Ngoài ra, tre nứa là loài mọc nhanh, sớm cho sản phẩm, kỹ thuật gây trồng tương đối đơn giản, có khả năng sinh trưởng trên đất khó canh tác và đất hoang hoá. Từ đó có thể thấy tài nguyên tre nứa giữ một vị trí rất quan trọng trong tài nguyên rừng nước ta nên hiện nay. Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì nằm ở phía Tây Thủ đô Hà Nội, cách trung tâm 50 (km) theo đường quốc lộ 21A và đường 87 có toạ độ địa lý 21001'' đến 21007'' vĩ độ Bắc; 105018'' đến 105025'' độ kinh Đông.
Vì là VQG duy nhất đóng trên địa bàn thủ đô, nên với vị trí địa lý thuận lợi như vậy nên VQG Ba vì đã nhận được sự quan tâm đóng góp của các cấp các ngành. Đã có rất nhiều trương trình, dự án với nhiều loài cây đã được triển khai tại đây nhằm hỗ trợ, cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân vùng đệm, nhằm hạn chế và giảm thiểu đến mức thấp nhất sự tác động của nhân dân vùng đệm đến diện tích của Vườn, trong đó có loài cây Bương mốc. Bương mốc (Dendrocalamus velutinus N. Vu) là loài tre mọc cụm, có kích thước lớn, phân bố ở một số tỉnh vùng Tây Bắc Việt Nam.
Tại VQG Ba Vì, Bương mốc được người dân tộc Dao 2 mang về trồng ở sườn và chân núi khoảng 100 năm gần đây, khi họ di cư đến vùng này. Đã có một số đề tài nghiên cứu về loài cây này, tuy nhiên mới chỉ dừng lại ở một số mức độ nhất định. Xuất phát từ những vấn đề trên, việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm học và khả năng nhân giống loài Bương mốc (Dendrocalamus velutinus N. Vu) tại vùng đệm, vườn quốc gia Ba Vì - Hà Nội” là cần thiết nhằm xác định được những cơ sở khoa học trong tạo giống Bương mốc, góp phần nâng cao chất lượng cây giống về lâu dài, cải thiện và tăng thêm thu nhập cho nhân dân xung quanh vùng đệm của VQG.
3 Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về các công trình đã công bố về đặc điểm lâm học và gây trồng tre, trúc 1. Trên thế giới 1. Những nghiên cứu về phân loại, phân bố tre trúc trên thế giới Công trình nghiên cứu tre, trúc trên thế giới của tác giả Munro được xuất bản vào năm 1868 với tựa đề: “Nghiên cứu về Bambusaceae”.
Sau đó là đến tác phẩm của tác giả Gamble viết về “Các loài tre trúc ở Ấn Độ” được xuất bản vào năm 1896. Trong tác phẩm này, tác giả đã mô tả khá chi tiết về đặc điểm hình thái của 151 loài tre trúc phân bố ở Ấn Độ và một số loài tre trúc phân bố ở Pakistan, Srilanca, Myanma, Malaysia và Inđônesia. Theo ý kiến của Gamble (1896) thì các loài tre trúc là loài thực vật chỉ thị rất tốt về các đặc điểm và độ phì của đất. Ví dụ: loài Bambusa polymorphe phân bố trong tự nhiên đã chỉ thị cho đặc điểm đất đủ ẩm gần như quanh năm và có hàm lượng các chất dinh dưỡng khoáng tương đối cao: “Đất có độ phì tự nhiên cao hay đất tốt”; do đó, nó phân bố trong kiểu rừng tự nhiên thường xanh, ẩm.
Nhưng trái lại, loài Dendrocalamus strictus phân bố trong tự nhiên lại chỉ thị cho điều kiện đất đai khô hạn, thuộc kiểu rừng tự nhiên, rụng lá. Khi đề cập tới một số khía cạnh của nhân tố khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, tổ chức FAO (1992), (2007) đã đưa ra danh lục 192 loài, cũng như đặc điểm phân bố theo đai độ cao của một số loài tre trúc.Z (1988), (1996), [25], [26] đã nghiên cứu về chi Dendrocalamus làm cơ sở để phân loại một số loài trong chi ở Trung Quốc và khu vực Đông Nam Á.Widjaja (1995),[29] khi giới thiệu về tài liệu tre trúc của Đông Nam Á đã đề cập tới các thông tin về tên khoa học, tên địa 4 phương, phân bố địa lí của loài, giá trị sử dụng, đặc điểm nhận biết qua hình thái và thông tin vắn tắt về sinh thái một số loài, như đối với loài Bương (Dendrocalamus giganteus) có mọc tự nhiên ở cao nguyên nhiệt đới ẩm trên 1.200m tuy nhiên có thể mọc ở rừng thấp nhiệt đới ẩm, có tầng đất dày nhiều mùn. Tại Thái Lan đã phát hiện thấy loài này mọc ở rừng cây Tếch. Tác giả Zhu Zhaohua (2000) [35] cho biết: Ở đảo Hải Nam rất gần với Việt Nam đã phát hiện được 46 loài tre nứa, trong đó có 38 loài phân bố tự nhiên, chủ yếu có 3 loài mọc tản thuộc chi Phyllostachys và Sasa; tại tỉnh Vân Nam có 250 loài đã được phát hiện, diện tích tre nứa đạt tới 331000 ha, riêng loài Phyllostachys heterocycta var.
pubescens chiếm 80% diện tích kể trên. Về nhân tố khí hậu: D.Tewari đã công bố số liệu cho biết trên thế giới hiện nay 80% rừng tre trúc phân bố ở Châu Á, tất cả các vùng rừng nhiệt đới và á nhiệt đới của thế giới đều có tre trúc xuất hiện. Độ cao phân bố của chúng từ sát biển lên tới 4000 m. Tác giả đã xây dựng được vùng phân bố chung cho tre trúc và bản đồ phân bố một số chi tre trúc quan trọng của thế giới.
Nhìn vào bản đồ phân bố này có thể thấy được trung tâm phân bố tre trúc tập trung vào giải nhiệt đới và á nhiệt đới thuộc Châu Á, trong đó chủ yếu là ở Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Nhật Bản, Malaysia, Bắc Australia, Trung Phi, Nam Mỹ và một phần nhỏ ở Bắc Mỹ. Về nhân tố địa hình: theo D. Tewari (2001) [30] thì Ấn Độ là nước có diện tích tre trúc lớn nhất thế giới, khoảng 2 triệu ha, phân bố từ sát biển lên tới độ cao 3. Có 50% số loài tập trung phân bố ở phía Tây Ấn Độ, đa số các loài có thân mọc cụm như Bambusa, Dendrocalamus, Gigantochloa, Oxytenanthera.
Tác giả cũng đưa ra dẫn liệu về độ cao phân bố của một số loài cụ thể, nhưng không thấy đề cập các loài trong chi Indosasa A. Ramanatha Rao (1999) [27] đã đưa ra một số kết quả về nghiên cứu có liên quan tới một số nhân tố sinh thái: loại đất, hàm lượng 5 mùn trong đất, lượng mưa, số ngày mưa trong năm của 19 loài tre trúc của Trung Quốc. Công trình “Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) [33], đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định. Tổ chức Plant Resources of South-East Asia (Prosea) [30] xuất bản tập “Prosea 7: Bamboos” đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng, có giá trị ở vùng Đông Nam Á.
Do giá trị dinh dưỡng và xuất khẩu của măng một số loài tre trúc cao và nhu cầu tiêu thụ măng tre trúc trên thị trường quốc tế ngày càng tăng, nên lĩnh vực nghiên cứu tre trúc để lấy măng được nhiều nước quan tâm, nhất là Trung Quốc, Thái Lan. Xiao Jianghua (1996) với “Cultivation & Utilization on Bamboos” đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát sinh măng, sinh trưởng và phát triển của thân khí sinh là: Độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh. Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng và thân khí sinh. Những nghiên cứu về kỹ thuật nhân giống tre trúc.
Theo nghiên cứu của A. Ramanatha (2000) cho thấy nhân giống sinh dưỡng là phương pháp có thể áp dụng với hầu hết các loài tre. Nhân giống bằng phương pháp giâm hom cành là một phương pháp có thể sử dụng với tính thực tiễn và hiệu quả cao, là một phương pháp phổ biến cho các vườn ươm thương mại với quy mô lớn. Phương pháp này thường được sử dụng cho các loài có rễ khí sinh tại gốc của các cành ngang.
Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng cành lớn có nhiều khả năng ra rễ hơn cành nhỏ. Nghiên cứu của Fu Maoyi và các cộng sự (2000) [24] về giâm hom bằng cành cũng cho thấy chọn cành để giâm hom tốt nhất có độ tuổi 1- 2 năm 6 và lấy từ cây 3 năm tuổi. Kích thước hom dài từ 40 – 50 cm, có từ 2 đến 3 đốt, khi giâm hom được đặt nghiêng so với luống và lấp đất dày từ 5 - 6cm, để đầu trên của cành trồi lên khỏi mặt đất. Luống giâm hom nên được che phủ bằng lá hoặc rơm rạ và tưới nước đủ ẩm hàng ngày.
Tác giả cho rằng nhân giống bằng hom cành có nhiều thuận lợi, sẽ không hoặc có rất ít tổn thương và khả năng ra măng ở gốc cây mẹ. Thời vụ giâm hom có thế tiến hành vào tháng 2 đến tháng 9 hàng năm, tốt nhất từ tháng 2 - 3 cho tỷ lệ sống cao hơn, cành lấy hom có kích cỡ nhỏ thường dễ dàng xử lý, vận chuyển và có chi phí thấp hơn cành lớn. Trồng cây hom có sự phát triển tốt về hệ rễ và cho tỷ lệ sống cao. Nghiên cứu của Victor Cusack (1997) [30] cho thấy, nhân giống bằng gốc có thể đạt được tỷ lệ sống 100%.
Tuy nhiên, chỉ nên áp dụng cho những loài tre có kích thước nhỏ. Trong phương pháp này, gốc được đào bao gồm rễ và phần đất xung quanh, mỗi gốc có từ 3 - 4 mắt, phần trên của thân khí sinh để lại từ 3 - 4 đốt. Nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy mô cho các loài tre cũng đã được một số nước trên thế giới thử nghiệm và đã đạt được những thành công bước đầu.