CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. TỔNG QUAN VỀ CÂY DƯA CHUỘT 1. Nguồn gốc và phân loại cây dưa chuột Dưa chuột là loại rau ăn quả trồng lâu đời nhất, được biết đến cách đây khoảng 5. Song cho đến nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc xuất xứ của loại cây này.
Phần lớn các nhà nghiên cứu đều thống nhất rằng cây dưa chuột có nguồn gốc từ Tây Ấn Độ (Nam Á), nơi tồn tại các loài họ hàng hoang dại với số lượng nhiễm sắc thể 2n = 14. Loài hoang dại Cucumis hardiwickii Royle là loài dưa chuột quả nhỏ, có vị đắng, có gai quả cứng và thưa được tìm thấy mọc hoang dại ở dưới chân núi Hymalaya. Một số nhà khoa học Liên Xô như Vavilov, Tcachenco (1967), Taracanov cho rằng khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam giáp Lào là nơi phát sinh cây dưa chuột vì ở đây còn tồn tại dạng dưa chuột hoang dại [11]. Từ kết quả nghiên cứu qua các chuyến thám hiểm thực địa, nhà thực vật học Vavilov (1926) đã cho rằng Trung Quốc là trung tâm khởi nguyên thứ 2 của loài dưa này.
Các tài liệu cổ của Trung Quốc cũng ghi nhận ngay từ thế kỷ thứ IV ở đây đã trồng dưa chuột. Từ việc phát hiện ra dạng cây dưa chuột hoàn toàn hoa cái (Gynoecious) trong tập đoàn giống từ Trung Quốc, giống như các dạng cây này của Nhật Bản được phát hiện trước đó, Mochshorov cho rằng dưa chuột Trung Quốc được trồng từ lâu ở những vùng có điều kiện khí hậu mát mẻ của Nhật Bản. Từ vùng nguyên sản, dưa chuột được du nhập vào Châu Âu từ thế kỷ XV. Từ Châu Âu, dưa chuột được đưa tới Châu Mỹ và cuối thế kỷ XVII chúng mới được phổ biến rộng rãi tại lục địa này.
Hiện nay dưa chuột được trồng hầu như khắp nơi trên thế giới, từ vùng nhiệt đới Châu Á, Châu Phi đến tận 63 vĩ độ Bắc [16]. Việc phân loại dưa chuột theo đặc tính sinh thái và di truyền học giúp các nhà chọn tạo giống dễ dàng lựa chọn nguồn vật liệu khởi đầu. Theo Trần Khắc Thi (1985) bảng phân loại của Gabaev (1932) loài C. được chia thành 3 loài phụ là: loài phụ Đông Á (ssp.), loài phụ Tây Á (ssp.) và loài hoang dại (ssp.
Giá trị dinh dưỡng Quả dưa chuột có hàm lượng nước thấp hơn các loại quả khác thuộc họ bầu bí (Cucrbitaceae) nhưng lại có hàm lượng protein cao. Dưa chuột chứa nhiều loại đường, một số loại axit amin, beta-carôten, vitamin B1, C, các chất canxi, phốt pho, sắt và kali. Do đặc điểm giàu các nguyên tố khoáng như Kali và ít Natri, dưa chuột kích thích sự lưu thông nước trong cơ thể, có tác dụng lợi tiểu và tái tạo khoáng [3]. Ngoài ra, dưa chuột có công dụng thanh nhiệt, chống khát, giải độc, tốt cho người tiểu tiện khó, rôm sảy.
Dưa chuột có tác dụng ức chế sự hình thành mỡ trong cơ thể, người béo ăn nhiều dưa chuột rất có lợi, đồng thời giảm lượng cholesterol và chống khối u. Bên cạnh đó dưa chuột còn có tác dụng làm đẹp, đắp mặt nạ bằng dưa chuột có tác dụng bảo vệ da và chống lại các nếp nhăn. Thành phần dinh dưỡng ăn được trong 100 dưa chuột (Theo “Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam - 2007”) Thành phần dinh dưỡng Đơn vị Hàm lượng Nước g 95 Năng lượng Kcal 16 Protein g 0,8 Lipid g 0,1 Glucid g 2,9 Celluloza g 0,7 Tro g 0,5 Đường tổng số g 1,67 Calci mg 23 Sắt mg 1,00 Magie mg 15 Mangan mg 0,250 Phospho mg 27 Kali mg 169 Natri mg 13 Kẽm mg 0,18 Vitamin C mg 5 Vitamin B1 mg 0,03 Vitamin B2 mg 0,04 Vitamin PP mg 0,1 Luan van 6 1. Giá trị kinh tế a.
Tình hình sản xuất dưa chuột trên thế giới. Quả dưa chuột có thể chế biến thành nhiều mặt hàng khác nhau. Do đó loại cây này đang là nguồn thu của nhiều quốc gia. Trong những năm gần đây đã có nhiều nước trên thế giới xuất, nhập khẩu dưa chuột dưới dạng ăn tươi hay chế biến [2].
Dưới đây là bảng số liệu thống kê tình hình sản xuất dưa chuột của 1 số nước trên thế giới giai đoạn 2012- 2016.3 : Tình hình sản xuất dưa chuột của 1 số nước trên thế giới giai đoạn 2012-2016 (Nguồn FAOSTAT 2018) Chỉ Nước 2012 2013 2014 2015 2016 tiêu Trung 1.840 Quốc Diện Nga 67.966 Quốc Năng Nga 248.091 Quốc Sản Nga 1.692 giới Luan van 7 Nhìn chung, diện tích, năng suất và sản lượng dưa chuột của các nước trên thế giới đều tăng qua các năm. Diện tích trồng dưa chuột trên thế giới năm 2016 là 2.672 ha tăng 1,37% so với năm 2012 với diện tích 2. Sản lượng dưa chuột đạt 375.893 tấn (năm 2016) tăng 12,5% so với năm 2012 (334. Do nhu cầu về rau xanh nói chung và dưa chuột nói riêng của người tiêu dùng ngày càng cao khi lương thực và các loại thức ăn giàu đạm được đảm bảo.
Đặc biệt là các nước phát triển như Trung Quốc, Nhật Bản, Anh. Canada, Đức… Năm 2005, 5 nước nhập khẩu dưa chuột lớn nhất thế giới là Hoa Kỳ (423.091 tấn) và Pháp (59. Trong khi đó, 5 nước xuất khẩu dưa chuột lớn nhất thế giới là: Tây Ban Nha (399.308 tấn) và Canada (54.967 tấn), như vậy nhiều quốc gia vừa xuất khẩu vừa nhập khẩu dưa chuột. Điều đó cho thấy rằng công nghệ chế biến đồ hộp chỉ đang tập trung vào một số nước phát triển như Hoa Kỳ, Canada, Newtherlands.
Những nước này, ngoài lượng dưa chuột sản xuất trong nước, đã nhập khẩu một lượng lớn dưa chuột ở dạng quả tươi, sau quá trình chế biến, xuất khẩu dưa chuột dưới dạng đồ hộp. Tình hình sản xuất dưa chuột ở Việt Nam Trong số các cây thực phẩm thì dưa chuột là cây trồng ngắn ngày cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến rau quả xuất khẩu, được nhiều quốc gia ưa thích. Diện tích, năng suất, sản lượng dưa chuột tăng mạnh trong những năm gần đây. Ở nước ta, dưa chuột được sản xuất chủ yếu ở một số tỉnh như Tây Ninh, Đồng Nai, Tiền Giang, Đồng Tháp, An Giang, Lý Nhân (Hà Nam), Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hóa.
thu lợi nhuận cao. Các mặt hàng dưa chuột xuất khẩu chủ yếu dưới dạng dưa quả tươi, dưa bao tử, dưa chuột muối, dầm giấm. sang một số nước châu Âu, châu Mỹ, châu Á: Trung Quốc, Đài Loan, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc [11]. Năm 2007, tổng công ty rau quả Việt Nam đã xuất khẩu được 47.423 tấn dưa chuột hộp và 522 tấn dưa chuột đóng lọ thủy tinh.
Năm 2008, tổng diện tích trồng là 1.685,56 ha, sản lượng xuất khẩu là 70. Năm 2009, diện tích trồng dưa chuột: 31. Sản lượng dưa chuột: 577. Các giống dưa chuột lai đang sử dụng sản xuất hiện nay Các giống dưa chuột hiện đang trồng phổ biến ở Việt Nam khá đa dạng và theo xu thế phát triển chung của thế giới.
Phân theo kích thước quả gồm có nhóm giống quả nhỏ, nhóm quả trung bình và nhóm quả to. Phân theo mục đích sử dụng các giống được chia thành 02 nhóm: nhóm giống ăn tươi và nhóm giống phục vụ chế biến. Theo thị hiếu vùng miền các giống dưa chuột lại được chia thành 02 nhóm là nhóm giống sử dụng cho các tỉnh phía Nam và nhóm giống sử dụng cho các tỉnh phía Bắc. Nhóm các giống sử dụng cho các tỉnh phía Nam (bao gồm cả miền Trung) gồm các giống: Ninja 179, Amata 765, Trang Nông 20, Hưng Thịnh.
Nhóm các giống được trồng tập trung ở các tỉnh phía Bắc như các giống Yên Mỹ, CV5, Ninja 179. Một số giống đã được chọn tạo như: Nhìn chung các giống dưa chuột hiện có của chúng ta còn chưa đáp ứng được yêu cầu về sản xuất và tiêu dùng. Các giống địa phương vẫn chưa được khai thác triệt để trong công tác chọn giống dưa chuột ở Việt Nam. Chưa có những giống chuyên dùng cho chế biến và phục vụ xuất khẩu mà thường phải nhập từ nước ngoài như: giống dưa chuột lai F1 TO, TK của Nhật Bản; giống dưa chuột bao tử nhập từ Thái Lan MTXTE; giống Marina quả chùm hoặc giống Levina quả đơn, v., giá hạt giống cao.
Đó là một yếu tố quan trọng dẫn đến chi phí sản xuất trên đơn vị diện tích tăng [9]. VAI TRÒ CỦA CÂY ĐƠN BỘI TRONG CHỌN GIỐNG CÂY TRỒNG 1. Giá trị của cây đơn bội Giá trị của cây đơn bội trong các nghiên cứu di truyền và chọn giống đã được phát hiện từ lâu. Cây đơn bội đã được tạo ra bằng nuôi cấy bao phấn ở hàng loạt cây trồng khác nhau.
Các nhà khoa học đã tìm ra những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến thành công của quá trình nuôi cấy như ảnh hưởng của kiểu gen, giai đoạn phát triển của hạt phấn và các điều kiện môi trường nuôi cấy. Ngoài nuôi cấy bao phấn, các nhà khoa học còn có những thành công rất lớn trong nuôi cấy noãn chưa thụ tinh, nuôi Luan van 9 cấy hạt phấn tách rời. Kỹ thuật tạo cây đơn bội in vitro thông qua kích thích tiểu bào tử hoặc đại bào tử trong nuôi cấy hạt phấn và noãn cho phép tạo ra nhanh chóng hàng loạt cây đơn bội, phục vụ đắc lực cho mục đích nghiên cứu di truyền và tạo giống cây trồng. Cây đơn bội mang bộ NST (n), vì vậy để cho nó sống được người ta phải tiến hành đa bội hóa đồng hợp tử tuyệt đối, tức là tạo ra allen hoàn toàn giống nhau.
Những biểu hiện của cây đơn bội (kiểu hình) thể hiện chính xác kiểu gen mà nó đang có, kể các gen lặn. Đây sẽ là nguồn vật liệu di truyền vô cùng quý giá trong công tác chọn giống. Giá trị của cây đơn bội trong các nghiên cứu di truyền và chọn giống đã được phát hiện từ lâu. Karpachenco là người đầu tiên ngay từ năm 1929 đã chỉ ra khả năng và triển vọng của việc sử dụng đơn bội vào mục đích chọn giống, vì trong bất kỳ một quần thể nào, một tổ hợp mong muốn của các gen trong giao tử thường là cao hơn so với trong hợp tử.
Do đó về mặt lý thuyết sẽ thường xuyên và rất nhanh nhận được các dạng đồng hợp tử có những tổ hợp các dấu hiệu mong muốn bằng cách gấp đôi trực tiếp số lượng nhiễm sắc thể ở các thể đơn bội [4]. Thời gian cần thiết để tạo ra dòng vật liệu nguồn- dòng đơn bội kép như vậy được rút ngắn rất nhiều, khoảng 3-4 lần, tùy đối tượng cây [1]. Phương pháp tạo cây đơn bội Cơ thể thực vật trong tự nhiên chỉ có thể giao tử (hạt phấn, noãn) là những tế bào đơn bội. Nếu như chúng phát triển thành cây thì cây đó có mức bội thể đơn bội (n).