mở đầu, quy mô còn nhỏ lẻ chưa thống kê được. Vì vậy được sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo TS. Vũ Văn Thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: 2 “Đánh giá thực trạng gây trồng cây Chùm ngây (Moringa Oleifera) tại Thị xã Sông Công Tỉnh Thái Nguyên”.2 Mục đích nghiên cứu. Đánh giá thực trạng gây trồng làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển cây Chùm ngây tại địa bàn nghiên cứu.
Mục tiêu nghiên cứu. - Xác định được các đặc điểm sinh thái học của loài cây Chùm ngây. - Xác định được thực trạng gây trồng phân bố loài Chùm ngây tại địa bàn. - Đề xuất được các giải pháp khắc phục những khó khăn trong việc phát triển vào cây này tại địa phương và các vùng lân cận.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Là cơ hội giúp sinh viên biết cách nghiên cứu khoa học, áp dụng những kiến thức đã học của nhà trường vào thực tế. - Nâng cao kiến thức thực tế. - Bổ sung tư liệu cho học tập. - Tích lũy kinh nghiệm cho công việc sau khi ra trường.
Ý nghĩa thực tiễn - Đánh giá và thống kê được tình hình gây trồng cây Chùm ngây tại địa bàn nghiên cứu và khả năng cung ứng cũng như nhu cầu thị trường về nguồn thực phẩm này. - Xác định được khó khăn, tồn tại trong việc phát triển loài cây này. Tìm được giải pháp cụ thể để loài cây này được mở rộng trở thành cây thực phẩm phổ biến. 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.
Khái quát cây Chùm ngây - Tên thông dụng: Chùm ngây (VN), Moringa (international) , Drumsticktree(US),Horseradishtree,Behen,DrumstickTree,IndianHorseradish, Noix de Bahen. - Tên Khoa học: Moringa oleifera hay M. Pterygosperma thuộc họ Moringaceae. - Nhà Phật gọi là cây Độ Sinh (Tree of Life ) - Nguồn gốc: Cây xuất xứ từ vùng Nam Á, có lịch sử hơn 4 ngàn năm, nhưng phổ biến rất nhiều ở cả Châu Á và Châu Phi.
Cây Chùm ngây rất phổ thông ở Ấn Độ và được dân tộc Ấn trân trọng đặt tên là cây Độ sinh. Là loài cây ưa sáng, mọc nhanh, giai đoạn đầu ưa bóng nên có thể trồng xen, khi cây lớn điều chỉnh ánh sáng, phân cành cao, vỏ màu hơi xanh khi còn non, màu trắng mốc khi đã già, tái sinh chồi mạnh với những nơi có độ ẩm cao, đất xốp, những nơi tầng mùn dày tái sinh hạt yếu. Cây chịu hạn tốt, chịu được những nơi đất xấu cằn cỗi. Cây Chùm ngây ( Moringa Oleifera) hiện được trồng ở 80 quốc gia trên thế giới , những quốc gia tiên tiến sử dụng rộng rãi và đa dạng trong công nghệ dược phẩm, mỹ phẩm, nước giải khát dinh dưỡng và thực phẩm chức năng.
Các quốc gia đang phát triển sử dụng Moringa như dược liệu kỳ diệu kết hợp chữa những bịnh hiểm nghèo, bệnh thông thường và thực phẩm dinh dưỡng. Các bộ phận của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamins, beta-carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics. Cây Chùm ngây cung cấp một hỗn hợp pha trộn nhiều hợp chất như zeatin, quercetin, beta-sitosterol caffeoylquinic acid và kaempferol, rất hiếm gặp tại các loài cây khác. Các bộ phận của cây như lá, rễ, hạt, vỏ cây, 4 quả và hoa.
có những hoạt tính như kích thích hoạt động của tim và hệ tuần hoàn, hoạt tính chống u-bướu, hạ nhiệt, chống kinh phong, chống sưng viêm, trị ung loét, chống co giật, lợi tiểu, hạ huyết áp, hạ cholesterol, chống oxy- hóa, trị tiểu đường, bảo vệ gan, kháng sinh và chống nấm. Cây đã được dùng để trị nhiều bệnh trong Y-học dân gian tại nhiều nước trong vùng Nam Á. Gỗ cây Chùm ngây rất nhẹ, có thể dùng làm củi nhưng năng lượng không cao. Nó được xem là nguồn nhiên liệu tiềm năng cho kĩ nghệ giấy với chất lượng bột giấy được so sánh ngang với cây dương( Poputus.
Vỏ cây thường làm thảm chùi chân hay bện làm dây thừng ở châu Phi, ngoài ra tại Jamaica và Senegal, người ta còn sử dụng vỏ cây làm thuốc nhuộm vải. Cây Chùm ngây thuộc loại cây mọc nhanh và dễ tính, sống được ở những nơi khô cằn và trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt, chịu được hạn hán. Vì vậy, ở nhiều nơi trên thế giới, cây Chùm ngây được trồng làm hàng rào xanh che chắn cho các khu sản xuất nông nghiệp, che bóng cho các cây công nghiệp dài ngày, chắn gió, chắn cát bay. Ngoài ra, cây có lá nhỏ, thân thon , tán đẹp nên được trồng làm cảnh, ngoài ra cây còn chữa nhiều chất dinh dưỡng có trong lá Chùm ngây như sau: 5 Bảng 2.1 : Phân tích hàm lượng dinh dưỡng của Moringa Thành phần dinh Trái Bột lá STT dưỡng/100gr tươi Lá tươi khô 86,9 01 Water ( nước ) % % 75,0 % 7,5 % 02 Calories 26 92 205 03 Protein ( g ) 2,5 6,7 27,1 04 Fat ( g ) ( chất béo ) 0,1 1,7 2,3 05 Carbohydrate ( g ) 3,7 13,4 38,2 06 Fiber ( g ) ( chất xơ ) 4,8 0,9 19,2 07 Minerals ( g ) ( chất khoáng ) 2,0 2,3 _ 08 Ca ( mg ) 30 440 2003 09 Mg ( mg ) 24 25 368 10 P ( mg ) 110 70 204 11 K ( mg ) 259 259 1324 12 Cu ( mg ) 3,1 1,1 0,054 13 Fe ( mg ) 5,3 7,0 28,2 14 S(g) 137 137 870 15 Oxalic acid ( mg ) 10 101 1,6 16 Vitamin A - Beta Carotene ( mg ) 0,11 6,8 1,6 17 Vitamin B - choline ( mg ) 423 423 - 18 Vitamin B1 - thiamin ( mg ) 0,05 0,21 2,64 19 Vitamin B2 - Riboflavin ( mg ) 0,07 0,05 20,5 Vitamin B3 - nicotinic acid ( 20 mg ) 0,2 0,8 8,2 21 Vitamin C - ascorbic acid ( mg 120 220 17,3 6 ) 22 Vitamin E - tocopherol acetate - - 113 23 Arginine ( g/16gN ) 3,66 6,0 1,33 % 24 Histidine ( g/16gN ) 1,1 2,1 0,61% 25 Lysine ( g/16gN ) 1,5 4,3 1,32% 26 Tryptophan ( g/16gN ) 0,8 1,9 0,43% 27 Phenylanaline ( g/16gN ) 4,3 6,4 1,39 % 28 Methionine ( g/16gN ) 1,4 2,0 0,35% 29 Threonine ( g/16gN ) 3,9 4,9 1,19 % 30 Leucine ( g/16gN ) 6,5 9,3 1,95% 31 Isoleucine ( g/16gN ) 4,4 6,3 0,83% 32 Valine ( g/16gN ) 5,4 7,1 1,06% ( nguồn : http://www.html) Qua bảng phân tích giá trị dinh dưỡng ta thấy Cây Chùm Ngây (Moringa oleifera) chứa hơn 90 chất dinh dưỡng tổng hợp.
Những chất dinh dưỡng cần thiết để gìn giữ sức khỏe con người , chống giảm nguy cơ từ những chứng bệnh suy thoái, chữa trị bách bệnh thông thường. Trên thế giới Chùm ngây được xem là một cây đa dụng, rất hữu ích tại những quốc gia nghèo, vì vậy nó được nghiên cứu rất nhiều về trồng trọt, thu hái, cũng như nghiên cứu về các hoạt tính y dược học, giá trị dinh dưỡng. Đa số các nghiên cứu được thực hiện tại Ấn Độ, Philippines, và Châu Phi. Nghiên cứu nhiều nhất về giá trị của Moringa oleifera Lam.
được thực hiện tại Đại Học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan. Theo nghiên cứu tại Đại học Nông Nghiệp Falsalabad- Pakistan: Moringa oleifera Lam. (Moringaceae) vừa là một nguồn dược liệu vừa là một nguồn thực phẩm rất tốt. Các bộ phận 7 của cây chứa nhiều khoáng chất quan trọng, và là một nguồn cung cấp chất đạm, vitamin, beta - carotene, acid amin và nhiều hợp chất phenolics… Nghiên cứu tại Institute of Bioagricultural Sciences, Academia Sinica, Đài Bắc: dịch chiết từ lá và hạt Chùm Ngây có các hoạt tính diệt được nấm gây bệnh loại Trichophyton rubrum, Trichophyton mentagrophytes, Epidermophyton floccosum và Microsporum canis, dầu trích từ lá Chùm Ngây có đến 44 hóa chất (Bioresource Technology Số 98-2007).
Nghiên cứu tại ĐH Baroda, Kalabhavan, Gujarat (Ấn Độ): Kết quả cho thấy Chùm Ngây có tác dụng gây hạ cholesterol, phospholipid, triglyceride, làm tăng sự thải loại cholesterol qua phân (Journal of Ethnopharmacology Số 86 - 2003). Nghiên cứu tại Trung Tâm Nghiên cứu Kỹ Thuật (CEMAT) tại thủ đô Guatemala, nước Guatemala ở phía Nam Mêhicô: Dịch trích bằng nước nóng của hoa, lá, rễ, hạt.vỏ thân Chùm Ngây có hoạt tính chống co giật, hoạt tính chống sưng và tác dụng lợi. Nước trích từ hạt cho thấy tác động ức chế khá rõ sự co giật gây ra bởi acetylcholine ở liều ED50 = 65.6 mg/ml môi trường, tác động ức chế phụ gây ra do carrageenan được định ở 1000mg/kg và hoạt tính lợi tiểu cũng ở 1000 mg/kg. Nước trích từ rễ cũng cho một số kết quả (Journal of Ethnopharmacology Số 36 - 1992).
Một số các hợp chất, các chất gây đột biến gen đã được tìm thấy trong hạt Chùm Ngây rang chín: Các chất quan trọng nhất được xác định là 4 (alpha Lrhamnosyloxy) phenylacetonitrile, 4 - hydroxyphenylacetonitrile và 4 – hydroxyphenyl - acetamide(Mutation Research Số 224-1989). Nghiên cứu tại ĐH Jiwaji, Gwalior (Ấn độ) về các hoạt tính estrogenic, kháng estrogenic, nước chiết từ rễ Chùm ngây có tác dụng ngừa thai(Journal of Ethnopharmacology Số 22 - 1988). Hạt Chùm Ngây có chứa một số hợp 8 chất “đa điện giải” (polyelectrolytes) tự nhiên có thể dùng làm chất kết tủa để làm trong nước. Kết quả thử nghiệm lọc nước: Nước đục (độ đục 15 - 25 NTU, chứa các vi khuẩn tạp 280-500 cfu ml (-1), khuẩn coli từ phân 280-500 MPN 100 ml (- 1)) dùng hạt Chùm ngây làm chất tạo trầm lắng và kết tụ, đưa đến kết quả rất tốt (độ đục còn 0.5 NTU, vi khuẩn tạp còn 5 - 20 cfu, và khuẩn coli còn 5-10 MPN.) Phương pháp lọc này rất hữu dụng tại các vùng nông thôn của các nước nghèo và được áp dụng khá rộng rãi tại Ấn độ (Journal of Water and Health Số 3 - 2005).
Thử nghiệm tại ĐH Dược K.S, Nehru Nagar, Karnakata (Ấn Độ) ghi nhận dịch chiết bằng nước và alcohol rễ cùng lõi gỗ Chùm Ngây làm giảm rõ rệt nồng độ oxalate trong nước tiểu bằng cách can thiệp vào sự tổng hợp oxalate trong cơ thể. Đây được xem như một một biện pháp phòng ngừa bệnh sạn thận. Reyes, 1990: đã nghiên cứu trồng trọt bằng hạt để thu hái làm dược liệu theo phương pháp luân phiên như sau: mỗi cây con trồng cách nhau từ 10 đến 50 cm, sau 75 ngày thu hái lá và cành non ở phía trên bằng cách cắt ngang thân cây cách gốc 20 - 30 cm, sau đó chăm sóc tiếp và thu hái, cây sẽ cho ra nhánh và cành non sau đó. Trung bình mỗi năm thu hoạch được 4 lần, năng xuất trung bình thu được 100 tấn/1 hecta/năm đầu tiên và 57 tấn /hecta/ năm thứ hai.
Tại Việt Nam 2. Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý, sinh thái Theo Võ Văn Chi (1997), (2003) [3], [4] viết về cây Chùm ngây như sau: Tên khoa học Moringa oleifera Lam., là một loại cây gỗ nhỏ, nửa rụng lá, thuộc họ Moringaceae.