mở đầu cho một giai đoạn mới là lập trại nuôi trồng hoa lan và kỹ nghệ nuôi trồng lan. Các giống lan đƣợc nuôi trồng ở đây là: Arachnis, Vanda, Oncidium. đồng thời lai tạo các loài lan mới (Vũ Thị Huệ, 2013). Từ năm 1957, Thái Lan, Indonexia bắt đầu phát triển nuôi trồng lan quy mô ngày càng lớn phục vụ cho xuất khẩu.
Các loài lan rừng, lan lai, lan cắt cành của Thái Lan đƣợc xuất khẩu qua nhiều nƣớc trên thế giới.Có thể nói Thái Lan là một nƣớc điển hình cho ngành nuôi trồng và xuất khẩu hoa lan ở các nƣớc châu Á. Công nghiệp sản xuất, xuất khẩu hoa lan ở Thái Lan đƣợc bắt đầu từ Thong Lor Rakhpa Busobat ở Bangkok. Từ ngƣời đầu tiên không biết gì về hoa lan và hầu nhƣ không ai chỉ dẫn, Thong Lor Rakhpa Busobat đã đến với hoa lan với tấm lòng say mê vô hạn. Ông đã tự mày mò nghiên cứu, trải qua bao nhiêu gian lao vất vả trên bƣớc đƣờng nghiên cứu.
Thành công nhiều nhƣng sai lầm cũng không phải ít. Và nhƣ ông đã từng nói: “Chính cây lan dạy tôi mò mẫm từ sai lầm”, cuối cùng ông đã thành công rực rỡ. Sau những thành công của Thong Lor, nhiều ngƣời từ các nƣớc Ấn Độ ,Sri Lanka, Philippin đã lần lƣợt đến Thái Lan học hỏi kinh nghiệm sản xuất và kinh doanh lan. Hiện nay hàng tháng công ty hoa lan của Thong Lor đã gửi hàng trăm chuyến hoa lan xuất khẩu sang các nƣớc châu Âu, sang Hoa Kỳ và sang Nam Mỹ.
Các vƣờn hoa lan của Thong Lor thƣờng có ít nhất là 10.000 cây trở lên. Đặc biệt Thong Lor đã lai tạo thành công nhiều loài hoa lan lai mới có hoa với nhiều màu sắc đẹp hấp dẫn ngƣời thƣởng thức. Ngành hoa lan Thái Lan ngày càng phát triển mạnh hơn lên với các vƣờn lan Mountain Orchids và Sai Nam Phung Orchids ở Chiang Mai, đây là những 8 vƣờn lan lớn với diện tích, số lƣợng cây và loài đáng chú ý của Thái Lan (Vũ Thị Huệ, 2013). Ở châu Âu cũng nhƣ châu Á, ngƣời châu Âu đã biết đến hoa lan rất sớm, các tập di cảo dƣợc tính, thảo mộc trong đó có nói đến cây lan đã có từ trƣớc Công nguyên (Vũ Thị Huệ, 2013).
Lan (Orchidologia) bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại. Theo Phrastus (370 - 285 trƣớc Công nguyên) là ngƣời đầu tiên dùng danh từ Orchis trong tác phẩm “Nghiên cứu về thực vật” để chỉ một loài hoa. Đầu thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên, Dioscoride đã đặt tên gọi trên cho hai loại cây trong tác phẩm của mình về cây mộc thảo làm thuốc. Orchis tiếng Hy Lạp có nghĩa là tinh hoàn, nó chỉ sự giống nhau của thân củ ngầm của lan có dạng tƣơng tự với tinh hoàn của động vật (Vũ Thị Huệ, 2013).
Trải qua một lịch sử lâu dài, năm 1519, một ngƣời châu Âu là Coster đã phát hiện một loài cây mới và lạ ở Mexico có mùi thơm, loại cây này đƣợc ông mang về Tây Ban Nha và phát triển thành lập kỷ nghệ sản xuất hƣơng vị vani, loại cây đó chính là an Vanilla. Mô tả về lan sớm nhất ở châu Mỹ là “Y văn cổ của Astec” (Badianus madues cript, 1552), ngoài giống lan Vanilla còn nhắc đến một loài lan khác (Vũ Thị Huệ, 2013). Đến năm 1753, Linnaeus đã dùng danh từ orchis trong cuốn sách thảo mộc Specles Platarum để chỉ các loài lan. Năm 1836, John Lindely dùng danh từ orchid định danh chung cho các loài lan.
Còn chữ orchis dùng chỉ một loài địa lan ở châu Âu (Vũ Thị Huệ, 2013). Các thế kỷ 16 – 17, những ngƣời châu Âu, đặc biệt là ngƣời Anh đã đi khắp thế giới nghiên cứu, sƣu tập cây cỏ. Trong thời kỳ này nhiều loài lan nhiệt đới đã đƣợc đƣa về nƣớc Anh. Năm 1794 ở Anh ngƣời ta đã biết đƣợc 15 loài 9 lan nhiệt đới.
Ở châu Âu trong cả một thời gian dài ngƣời ta cho rằng hoa lan mọc trên gỗ, nên chúng là vật ký sinh và xem sự nghiệp gây trồng là vô vọng. Những dò lan quý hiếm do các nhà du lịch mang từ các vùng rừng núi nhiệt đới xa xôi về đƣợc bảo quản một cách vô cùng cẩn thận trong những bộ thực vật sƣu tập đƣợc coi là những tài sản vô giá. Sự yêu thích về hoa lan của ngƣời châu Âu ngày một tăng lên, dần dần càng có nhiều ngƣời đi đến các nƣớc châu Á, châu Mỹ tìm lan. Nhiều ngƣời đi sâu vào rừng nguyên sinh nhiệt đới, trải qua bao nhiêu nguy hiểm để tìm kiếm đƣợc một giò lan, không ít ngƣời đã phải trả giá đắt bằng cả tính mạng của con ngƣời để tìm đƣợc một vài loài lan mới trong các chốn rừng sâu.
Ở thế kỷ 18 - 19, lan là một loài thực vật quý đƣợc đánh giá cao, một vài giò lan quý bằng mấy lần tiền lƣơng của công nhân hàng tháng. Ở thời kỳ này, khoa học và kỹ thuật trong sinh học và nông học chƣa cao, ngƣời ta chƣa biết sự cần thiết của nấm rễ đối với đời sống của cây lan, ngƣời ta chƣa biết kỹ thuật gây tạo cây giống lan từ hạt, quá trình tìm kiếm các loài lan gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề vận chuyển lại càng khó khăn gấp bội. Chính vì vậy nên giá hoa lan trở nên cao vƣợt bậc. nhiều cuộc khảo sát, tìm tòi các loài lan đƣợc tổ chức trong thời gian này với một kinh phí lớn và hoa lan trở thành mặt hàng kinh doanh mang lợi nhuận cao (Vũ Thị Huệ, 2013).
Đầu thế kỷ 20, kỹ thuật gieo trồng hoa lan từ hạt bằng nhiều nấm cộng sinh có từ cây lan mẹ bắt đầu mở ra một giai đoạn mới đối với nghề nuôi trồng lan. Nhiều nhà khoa học, nhiều nhà làm vƣờn đã nghiên cứu các phƣơng thức nuôi trồng hoa lan trong những điều kiện môi trƣờng khác nhau, việc chăm bón, cung cấp các chất dinh dƣỡng đƣợc tiến hành trên những cơ sở khoa học mới. Việc khám phá ra vấn đề bổ sung gluxit và những chất hữu cơ khác cho hoa lan tạo điều kiện cho việc mở rộng quy mô môi trƣờng ngày càng lớn. Với những phƣơng pháp kỹ thuật nhân giống bằng hạt đã mở ra khả năng phát triển ngành lan ở châu Âu cũng nhƣ ở thế giới.
Đặc biệt là đƣa kỹ thuật lai tạo áp dụng vào giống lan, tạo ra những cây lan lai có vẻ đẹp về màu sắc và hình dạng duyên 10 dáng hơn hẳn bố mẹ. Từ đây lan lai đầu tiên đƣợc tạo ra giữa các loài hoa là Calanthe dominii bắt đầu nở hoa vào năm 1856 đƣợc nhà làm vƣờn ngƣời Anh là Fohn Domini tạo ra bằng cách lai C. Ngày nay, các loài lan đã xếp thành một hệ thống phân loại chung gọi là Orchidaceae, lan rừng đã xác định đƣợc 750 chi và hơn 25.000 loài tự nhiên và có hơn 30.000 loài lan lai. Mọi kỹ thuật nhân giống và nuôi trồng hoa lan đã trở thành một bộ phận chủ yếu nhất của ngành trồng hoa cảnh xuất khẩu của nhiều nƣớc.
Việc khai thác nguồn lan nhiệt đới đối với ngƣời châu Âu không còn nguy hiểm nữa. Nhiều công ty ở các nƣớc nhiệt đới đã thu thập các loại lan rừng và nuôi trồng để xuất khẩu. Trong những thập niên cuối thế kỷ 20, ở châu Âu, lan trở thành mặt hàng thƣơng mại, từ Anh sang Pháp. sau đó lan sang Mỹ.
Ở Mỹ có hai bang sản xuất hoa lan phổ biến nhất ở California và Florida. Việc nuôi trồng để xuất khẩu hoa lan hiện nay ở nhiều nƣớc đã đạt đến số lƣợng hàng trăm giò lan và cành lan mỗi năm. Trƣớc đây số lƣợng xuất khẩu chủ yếu là từ lan đƣợc khai thác trong rừng đã gây lên nguy cơ khoảng 13 số loài lan có thể bị diệt chủng. Nhu cầu nuôi trồng hoa lan trên quy mô công nghiệp ngày càng phát triển.
Ở nhiều nƣớc, các nhà nuôi trồng hoa lan nghiệp dƣ và chuyên nghiệp đã lập ra các hội hoa lan ngày càng nhiều. Ngày nay đã có hơn 400 hội hoa lan trên thế giới, có nhiều chuyên san về hoa lan đã đƣợc xuất bản. Nhiều cuộc hội thảo về hoa lan trên quy mô quốc tế đƣợc triệu tập (Vũ Thị Huệ, 2013). Từ năm 1983, tập san chuyên đề về lan alf To orchids - Review đƣợc Anh xuất bản theo định kỳ 3 tháng một số, và từ năm 1932 tập san To American orchid - Society (AOS) đƣợc Mỹ xuất bản định kỳ mỗi tháng một số.
Cho đến nay cả hai tập san trên vẫn tiếp tục phát hành và có hàng loạt các tập san về hoa mới phát hành tiếp sau. Nhiều cuộc triển lãm về lan đã đƣợc tổ chức. Nhiều giải thƣởng đặt ra cho những thành tựu xuất sắc nhất trong việc chọn giống lan (Vũ Thị Huệ, 2013). 11 Trung Quốc là nƣớc có tốc độ phát triển lan khá nhanh.
Đầu thập kỷ 80, Trung Quốc bắt đầu nhập nội lan Hồ Điệp. Năm 2002, sản lƣợng lan Hồ Điệp của Trung Quốc là 3 triệu cây, chủ yếu ở Quảng Đông, Phúc Kiến, Bắc Kinh, Vân Nam, Sơn Đông. bao gồm 50 - 60 xí nghiệp có quy mô lớn, trong đó Quảng Đông có hơn 10 công ty sản xuất khoảng 1,2 triệu cây (chiếm 40% sản lƣợng lan Hồ Điệp của Trung Quốc). Cùng với mức sống ngày càng cao của ngƣời dân thì nhu cầu về hoa cũng ngày càng tăng, diện tích trồng hoa ngày một tăng và nghề trồng lan Hồ Điệp đã trở thành con đƣờng làm giàu chắc chắn cho nhiều công ty doanh nhân ở Trung Quốc (Vũ Thị Huệ, 2013).
Hiện nay, đối với ngƣời các nƣớc châu Âu và châu Mỹ cũng nhƣ hầu hết các nƣớc trên thế giới, hoa lan là một sản phẩm cao quý. Đặc biệt đến mùa Giáng sinh, lan đƣợc xuất khẩu một cách ồ ạt từ các ƣớc châu Á nhƣ Thái Lan, Singapore sang các nƣớc Âu Mỹ với giá cao, các nhà sản xuất thuê bao các hãng hàng không vận chuyển hoa lan sang phục vụ ngƣời tiêu dùng (Vũ Thị Huệ, 2013). Thị trƣờng xuất khẩu hoa lan trên thế giới ngày càng mở rộng. Kim ngạch thƣơng mại hoa lan cắt cành thế giới 2000 đạt 150 triệu USD trong đó Nhật Bản là nƣớc nhập khẩu hoa lan cắt cành số 1 thế giới, thứ hai là Ý, tiếp đến là Pháp, Đức đứng thứ tƣ và thứ năm là Mỹ, các nƣớc từ thứ 6 đến 17 lần lƣợt là: Anh, Hà Lan, Áo, Bỉ, Hy Lạp, Ba Lan, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Canada, Phần Lan, Đan Mạch, Thụy Sĩ,.
Thị trƣờng xuất khẩu hoa lan hiện nay rất lớn và đầy triển vọng.