Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, xã hội Việt Nam có những bước chuyển biến sâu sắc. Bên cạnh những mặt tích cực, hiện tượng ly hôn đang gia tăng nhanh chóng, kéo theo nhiều hệ lụy pháp lý và xã hội. Con chưa thành niên là đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất khi cha mẹ chấm dứt quan hệ hôn nhân. Việc cha mẹ ly hôn đẩy con cái vào "hoàn cảnh đặc biệt", buộc trẻ phải lớn lên trong môi trường gia đình khuyết thiếu, dễ dẫn đến những nguy cơ phát triển lệch lạc về thể chất, tâm lý và nhân cách nếu không được bảo vệ kịp thời.
Mặc dù Hiến pháp năm 2013, Luật Trẻ em năm 2016 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã thiết lập nền tảng pháp lý cơ bản để bảo vệ trẻ em, nhưng các quy định liên quan đến việc bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn vẫn còn những bất cập nhất định. Trên thực tế, công tác giải quyết các tranh chấp về con chung và thi hành án dân sự (đặc biệt là nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom) còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc, làm suy giảm quyền lợi chính đáng của trẻ. Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Trần Ngọc Anh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật Việt Nam".
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm rõ các quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, chỉ ra những kết quả đạt được, phát hiện hạn chế, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng. Khóa luận xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích những vấn đề lý luận liên quan đến nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
- Phân tích các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn.
- Đánh giá thực trạng thực hiện nguyên tắc, chỉ ra kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó.
- Đề xuất các phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện trên thực tế.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn thi hành nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn. Phạm vi nghiên cứu về không gian là lãnh thổ Việt Nam; phạm vi thời gian tập trung vào giai đoạn từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, trọng tâm là các quy định hiện hành theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn liên quan.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (đặc biệt là Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022). Khung pháp lý tham chiếu bao gồm các văn bản quốc tế và quốc gia: Công ước Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em năm 1989 (Việt Nam phê chuẩn năm 1990); Hiến pháp năm 2013; Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Trẻ em năm 2016; Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp.
Nghiên cứu sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các văn bản quy phạm pháp luật, học thuyết pháp lý, tài liệu chuyên khảo và bài báo khoa học, từ đó khái quát hóa thành các kết luận và giải pháp kiến nghị.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của các đạo luật hôn nhân và gia đình qua các thời kỳ lịch sử (1950, 1959, 1986, 2000, 2014) nhằm chỉ ra sự kế thừa, phát triển và bước tiến trong tư duy lập pháp.
- Phương pháp thống kê: Sử dụng số liệu thực tế về tình hình ly hôn, độ tuổi kết hôn và ly hôn từ Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới để chứng minh tính cấp bách của đề tài.
Nguồn dữ liệu của khóa luận gồm các văn bản pháp luật thực định; sách chuyên khảo và giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội; các bài viết trên tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, Tạp chí Kiểm sát, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam; các luận văn thạc sĩ luật học có liên quan; số liệu điều tra xã hội học công bố năm 2018.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn
Chương này tập trung xác lập hệ thống khái niệm, ý nghĩa, cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn và tiến trình lịch sử lập pháp của nguyên tắc. Ly hôn được tiếp cận dưới góc độ pháp lý căn cứ theo khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Con chưa thành niên được xác định theo khoản 1 Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015 là người chưa đủ 18 tuổi. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn là hệ thống tư tưởng, quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, chi phối các quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện quyền, phòng ngừa, ngăn chặn các hành vi xâm hại và khắc phục hậu quả bất lợi cho trẻ.
Ý nghĩa của việc quy định nguyên tắc này được luận giải qua 4 nội dung: (1) Nâng cao tinh thần trách nhiệm của cha mẹ sau ly hôn; (2) Cụ thể hóa việc bảo vệ trẻ em trong trường hợp hoàn cảnh đặc biệt; (3) Góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Hiến pháp 2013; (4) Giữ gìn và phát huy truyền thống đạo lý gia đình tốt đẹp của dân tộc.
Về cơ sở lý luận, tác giả phân tích quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua 128 bài viết về trẻ em, tiêu biểu là bài viết trên Báo Nhân Dân số 5526 ngày 01/6/1969 xác định chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm chung của gia đình và toàn xã hội. Về cơ sở thực tiễn, tác giả dẫn số liệu của Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (năm 2018): trung bình cả nước có trên 60.000 vụ ly hôn mỗi năm (chiếm 30% tổng số cặp kết hôn; 70% số vụ thuộc các gia đình trẻ độ tuổi 18-30; 60% ly hôn sau 1-5 năm chung sống).
Khóa luận khái quát tiến trình phát triển của pháp luật Việt Nam về việc bảo vệ con khi cha mẹ ly hôn qua bảng tổng hợp sau:
| Giai đoạn lịch sử |
Văn bản pháp lý tiêu biểu |
Nội dung bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên khi ly hôn |
| 1945 - 1954 |
Sắc lệnh số 97/SL (22/5/1950) Sắc lệnh số 159/SL (17/11/1950) |
Đặt nền móng ban đầu: Tòa án căn cứ vào quyền lợi của con để ấn định việc trông nom, nuôi nấng; hai vợ chồng cùng chịu phí tổn nuôi con tùy theo khả năng (Điều 6 Sắc lệnh 159/SL). |
| 1954 - 1975 |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 |
Quy định bảo vệ quyền lợi con khi chia tài sản (Điều 29); bổ sung nghĩa vụ cấp dưỡng; quy định quyền thăm nom của bên không nuôi dưỡng; quy định "con còn bú phải do mẹ phụ trách" (Điều 32). |
| 1975 - 2000 |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 |
Tòa án có quyền truất quyền trông nom, giáo dục, quản lý tài sản của cha mẹ trong 1-5 năm nếu có hành vi ngược đãi con (Điều 26); quy định thăm nom vừa là quyền vừa là nghĩa vụ; bổ sung chế tài trốn tránh cấp dưỡng (Điều 45). |
| 2000 - 2014 |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 |
Quy định con dưới 3 tuổi giao mẹ nuôi dưỡng; bước đột phá nội luật hóa Điều 12 Công ước Quyền trẻ em: bắt buộc xem xét nguyện vọng của con từ đủ 9 tuổi trở lên khi quyết định người nuôi dưỡng. |
| 2014 đến nay |
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 |
Hạ độ tuổi bắt buộc lấy ý kiến nguyện vọng của con xuống từ đủ 7 tuổi trở lên; quy định con dưới 36 tháng tuổi giao cho mẹ trực tiếp nuôi (kèm điều kiện loại trừ); mở rộng chủ thể yêu cầu thay đổi người nuôi con. |
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP trên hai nhóm quan hệ chính: tài sản và nhân thân.
Thứ nhất, trong việc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn: Khoản 5 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên. Khoản 4 và Khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016 hướng dẫn cụ thể: việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất kinh doanh không được làm ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của con chưa thành niên; xem xét yếu tố lỗi của một bên (bạo lực gia đình, phá tán tài sản) khi chia tài sản để ưu tiên con; trường hợp nhà ở là tài sản chung duy nhất không thể chia bằng hiện vật, Tòa án xem xét giao cho bên trực tiếp nuôi dưỡng con chưa thành niên nhận hiện vật và thanh toán giá trị chênh lệch cho bên kia.
Thứ hai, trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cha mẹ và con:
- Giao quyền trực tiếp nuôi dưỡng con (Điều 81): Pháp luật tôn trọng sự thỏa thuận của cha mẹ vì lợi ích của con. Khi không thỏa thuận được, Tòa án quyết định dựa trên quyền lợi mọi mặt của trẻ, đánh giá toàn diện về đạo đức, lối sống, khả năng kinh tế, thời gian chăm sóc và môi trường sống của cha, mẹ. Quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi (trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện hoặc hai bên có thỏa thuận khác). Bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 7 tuổi trở lên.
- Quyền và nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con: Bao gồm nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng (Điều 71); nghĩa vụ giáo dục, tạo điều kiện học tập (Điều 72); quyền đại diện đương nhiên theo pháp luật trong các giao dịch dân sự thường ngày (Điều 73, Điều 136 Bộ luật Dân sự 2015); nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra theo Điều 74 Luật Hôn nhân và gia đình và Điều 586 Bộ luật Dân sự 2015; quyền quản lý và định đoạt tài sản riêng của con (Điều 75, 76, 77). Con từ đủ 15 tuổi trở lên được tự quản lý tài sản riêng; trường hợp cha mẹ định đoạt tài sản riêng của con dưới 15 tuổi thì phải vì lợi ích của con, nếu con từ đủ 9 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
- Quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con: Quyền và nghĩa vụ thăm nom con được khẳng định tại khoản 3 Điều 82 (không ai được cản trở, nhưng nếu lạm dụng thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu thì có thể bị hạn chế quyền này). Nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định chi tiết tại Điều 82, 110, 116, 117, 118, 119: mức cấp dưỡng căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ và nhu cầu thiết yếu của con; phương thức cấp dưỡng linh hoạt (hàng tháng, hàng quý, nửa năm, hàng năm hoặc một lần); có thể thay đổi mức cấp dưỡng khi có lý do chính đáng; nghĩa vụ cấp dưỡng chấm dứt khi con đã thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi mình.
- Thay đổi người trực tiếp nuôi con (Điều 84): Tòa án căn cứ vào sự thỏa thuận của cha mẹ phù hợp với lợi ích của con, hoặc khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện chăm sóc. Điểm mới quan trọng là mở rộng đối tượng có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con sang người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và hội liên hiệp phụ nữ. Việc thay đổi người nuôi con từ đủ 7 tuổi trở lên bắt buộc phải xem xét nguyện vọng của con.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện và một số phương hướng, kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật Việt Nam
Chương 3 tổng kết thực tiễn áp dụng và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả. Về kết quả đạt được, hệ thống pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành đã tạo hành lang pháp lý tương đối toàn diện, bám sát các điều ước quốc tế, giúp Tòa án các cấp giải quyết đúng đắn nhiều vụ việc, bảo vệ tốt hơn quyền lợi thân nhân và tài sản của trẻ.
Tuy nhiên, thực tiễn thực thi vẫn bộc lộ nhiều bất cập:
- Việc xác định điều kiện kinh tế, tư cách đạo đức và thời gian chăm sóc con của cha, mẹ khi tranh chấp quyền nuôi dưỡng còn mang tính định tính, chưa có tiêu chí lượng hóa rõ ràng.
- Tình trạng một bên cản trở quyền thăm nom hoặc lạm dụng quyền thăm nom làm xáo trộn đời sống của trẻ diễn ra khá phổ biến nhưng thiếu chế tài can thiệp nhanh chóng.
- Thi hành án dân sự về nghĩa vụ cấp dưỡng gặp trở ngại lớn, nhất là đối với những người làm nghề tự do, không có bảng lương cố định để khấu trừ thu nhập trực tiếp.
Từ đó, tác giả đưa ra các phương hướng hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và các giải pháp thực thi: xây dựng hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đánh giá "điều kiện mọi mặt" của người trực tiếp nuôi con; hoàn thiện quy trình lấy ý kiến con từ đủ 7 tuổi để tránh áp lực tâm lý từ cha mẹ; bổ sung các chế tài xử phạt hành chính và biện pháp cưỡng chế thi hành án hiệu quả đối với hành vi trốn tránh cấp dưỡng hoặc cản trở thăm nom; nâng cao vai trò phối hợp của cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em và Hội Liên hiệp Phụ nữ trong quá trình giám sát sau ly hôn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa một cách có phương pháp các vấn đề lý luận về quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn, chỉ rõ mối liên hệ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và sự tiến triển của các đạo luật hôn nhân gia đình Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Tác giả đã chứng minh được tính lịch sử và bước tiến lập pháp qua từng thời kỳ, nổi bật là sự chuyển dịch từ Luật năm 2000 sang Luật năm 2014 trong việc hạ độ tuổi xem xét nguyện vọng của con (từ đủ 9 tuổi xuống đủ 7 tuổi) và mở rộng chủ thể yêu cầu thay đổi người nuôi con tại Điều 84.
Công trình cung cấp bức tranh thực trạng pháp lý chi tiết dựa trên các điều khoản cụ thể của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Trẻ em năm 2016 và Thông tư liên tịch số 01/2016. Các số liệu xã hội học thực tế từ Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới (trên 60.000 vụ ly hôn/năm, 30% tỷ lệ ly hôn, 70% thuộc nhóm tuổi 18-30) được đưa vào để luận chứng cho nhu cầu cấp thiết phải siết chặt cơ chế bảo vệ trẻ em. Đồng thời, khóa luận đã đề xuất các nhóm giải pháp xuất phát từ chính vướng mắc trong khâu xét xử của Tòa án và khâu cưỡng chế của cơ quan thi hành án dân sự.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chủ yếu tiếp cận vấn đề dưới góc độ phân tích quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn ở mức độ khái quát chung, chưa tiến hành thu thập, phân tích hệ thống bản án thực tế tại Tòa án nhân dân các cấp theo từng địa bàn cụ thể. Bên cạnh đó, các vấn đề tâm lý học trẻ em chuyên sâu trong các vụ án hôn nhân gia đình chưa được khai thác sâu do giới hạn của chuyên ngành luật học.
Hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài có thể mở rộng khảo sát thực tế hồ sơ thi hành án dân sự về cấp dưỡng tại các địa phương, phân tích các án lệ của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao liên quan đến tranh chấp quyền nuôi con, hoặc nghiên cứu so sánh kinh nghiệm giải quyết tranh chấp quyền nuôi con của pháp luật các nước trong khu vực và trên thế giới.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là các học phần Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Trẻ em, Luật Tố tụng Dân sự và Thi hành án Dân sự. Nội dung Chương 1 và Chương 2 cung cấp tài liệu tổng hợp có giá trị cho những ai đang thực hiện đề tài nghiên cứu về quyền của phụ nữ và trẻ em khi gia đình tan vỡ.
Đối với những người làm công tác thực tiễn như Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và Chấp hành viên cơ quan thi hành án dân sự, các phân tích về Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP và các căn cứ tại Điều 59, 81, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 mang lại giá trị tham khảo rõ ràng trong việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản và quyền nuôi con trên thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, độ tuổi của con để Tòa án bắt buộc phải xem xét nguyện vọng khi quyết định người trực tiếp nuôi dưỡng đã thay đổi như thế nào so với Luật năm 2000?
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định việc xem xét nguyện vọng của con chỉ áp dụng đối với con từ đủ 9 tuổi trở lên (khoản 2 Điều 92). Đến Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, độ tuổi này đã được hạ xuống từ đủ 7 tuổi trở lên (khoản 2 Điều 81 và khoản 3 Điều 84), giúp trẻ sớm có tiếng nói và bày tỏ nguyện vọng về môi trường sống sau khi cha mẹ ly hôn.
2. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi con chưa thành niên được thể hiện như thế nào khi chia tài sản chung là nhà ở duy nhất của vợ chồng?
Theo khoản 6 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, khi chia nhà ở là tài sản chung duy nhất mà không thể chia bằng hiện vật, Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc người chồng đang trực tiếp nuôi con chưa thành niên được nhận hiện vật nhà ở và thanh toán phần giá trị chênh lệch cho bên còn lại, nhằm bảo đảm chỗ ở ổn định cho đứa trẻ.
3. Pháp luật hiện hành quy định việc giao con dưới 36 tháng tuổi khi cha mẹ ly hôn như thế nào?
Căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con dưới 36 tháng tuổi được ưu tiên giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Quy định này chỉ bị loại trừ trong hai trường hợp: người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.
4. Những chủ thể nào có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con theo Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?
Ngoài cha và mẹ, Điều 84 đã mở rộng quyền yêu cầu sang: người thân thích; cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; và Hội Liên hiệp Phụ nữ. Quy định này nhằm kịp thời bảo vệ con chưa thành niên khi người đang trực tiếp nuôi dưỡng không còn đủ điều kiện chăm sóc hoặc có hành vi xâm hại trẻ.
5. Con chưa thành niên từ đủ 15 tuổi có quyền gì đối với tài sản riêng của mình theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014?
Căn cứ Điều 76 và Điều 77 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, con từ đủ 15 tuổi trở lên có quyền tự mình quản lý tài sản riêng (hoặc nhờ cha mẹ quản lý giúp) và có quyền tự định đoạt tài sản riêng. Tuy nhiên, nếu tài sản định đoạt là bất động sản, động sản có đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng hoặc tài sản dùng để kinh doanh thì bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc người giám hộ.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Ngọc Anh là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ ly hôn theo pháp luật Việt Nam. Tác giả đã làm rõ các cơ sở lý luận, đối chiếu quá trình lập pháp từ năm 1945 đến nay và phân tích sâu sắc các quy chuẩn thực định theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành. Các bất cập trong thực tiễn xét xử và thi hành án dân sự được nhận diện khách quan, làm căn cứ vững chắc cho các đề xuất hoàn thiện pháp luật. Công trình là tài liệu hữu ích phục vụ cho công tác học tập, nghiên cứu và hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực hôn nhân gia đình.