CHƯƠNG 1 PHY NU VIỆT NAM NHÌN TU BOI CANH VAN HOA-XA HOI HAN QUOC 1.1 Bối cảnh di cư của phụ nữ Việt Nam sang Hàn Quốc thông qua hôn nhân Do tỷ lệ tử vong đàn ông bởi chiến tranh và sự di cư của đàn ông ra nước ngoài tăng nhanh, vào năm 1989, Việt Nam thành một trong những nước có mắt cân bằng giới tính nghiêm trọng. Do đó, phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi kết hôn đã gặp khó khăn khi tìm đối tượng kết hôn trong nước. Thay vào đó, nhiều phụ nữ Việt Nam đã kết hôn với đàn ông nước ngoài. Theo dif liệu nhân khẩu học Thành phó Hồ Chí Minh, số lượng phụ nữ Việt Nam và đàn ông nước ngoài kết hôn với nhau tăng lên nhanh.
Số phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài vào năm 1993 là 109 người, vào năm 1998 là 4393 người và vào năm 2001 là 27544 người. [14] Điều này cho thấy số phụ nữ trong độ tuổi kết hôn nhiều hơn số đàn ông trong độ tuổi kết hôn. Ở Hàn Quốc, kề từ những năm 1980, số nam giới trong độ tuổi kết hôn đã vượt xa số nữ giới do mat cân bằng nghiêm trọng về tỷ số giới tính khi sinh và tỷ lệ sinh thấp do tư tưởng thích con trai. Đặc biệt, do quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa, tình trạng di cư của phụ nữ ra khỏi khu vực nông thôn diễn ra gay gắt hơn.
Trong những năm 1980, số nam giới trong độ tuôi kết hôn từ 25 đến 29 tuổi bắt đầu vượt quá 8% so voi số nữ giới, và vào năm 2000, tỷ lệ vượt quá 30%. 15] Khi xem xét thống kê tỷ số giới của hai nước, có thể biết cơ sở cho việc kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc đã hình thành, và thực tế, hôn nhân quốc tế giữa phụ nữ và đàn ông giữa hai nước là do mat cân bằng giới tính. Tuy nhiên, tỷ lệ giới tính giữa nam và nữ ở Việt Nam đã bắt đầu cải thiện từ cuối những năm 1990 và hiện nay là không đáng kể. Ngược lại ở các vùng nông thôn, nhiều phụ nữ trong độ tuôi kết hôn, có xu thế lấy người nước ngoài, mặc dù số không thiếu đàn ông ở độ tuôi kết hôn.
Vì tình trạng này, hiện tượng số nam giới 12 nhiều hơn số nữ giới trở nên tram trong hơn. [2]'° Có thé thấy nguyên nhân khiến phụ nữ Việt Nam muốn di cư ra nước ngoài ban đầu do Việt Nam thiếu nam giới, nhưng mặt khác, tình trạng di cư kết hôn ra nước ngoài vẫn tiếp tục diễn ra không phụ thuộc vào số lượng nam giới mà do những quan niệm khác liên quan đến tài chính, hy vọng đổi đời, mong muốn được người trong làng xóm, dòng họ đánh giá mình cao hơn. Việc tiếp tục gia tang tỷ lệ di cư kết hôn giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông Hàn Quốc bị ảnh hưởng bởi cơ cầu nhân khẩu mà có sự mat cân bằng giới tính, nhưng nó cũng bị ảnh hưởng nhiều hơn bởi các yếu tố chính trị, kinh tế, và văn hóa của việc di cư của phụ nữ Việt Nam ra nước ngoài. Ở Việt Nam, trước thời kì Đổi Mới(1986), khối lượng công việc nội trợ của phụ nữ không lớn, nhờ vào bếp ăn tập thê và cơ sở giữ trẻ.
Tuy nhiên, sau Đổi Mới, cường độ lao động nữ bắt đầu tăng lên do lao động giúp việc gia đình được trả lại cho mỗi hộ gia đình và điều kiện lao động cũng trở nên khó khăn. Ví dụ, như với việc nuôi dạy con cái mà vốn thuộc trách nhiệm của phụ nữ, trước đây, cường độ lao động không vất vả cho nên có thể lao động và chăm sóc gia đình ở một mức độ nào đó, nhưng đến giai đoạn này, việc vừa làm và vừa chăm sóc gia đình cùng một lúc đã trở nên hầu hết bất khả. Nguyên nhân là do thời gian mẹ nghỉ sinh bị rút ngắn, làm tăng cường độ và kéo dài thời gian lao động. Và bởi vì nhà nước không đảm bảo việc làm hoặc nhà ở, người phụ nữ không những bị gánh nặng gia đình mả còn phải lo com áo gạo tiền, nhưng do học vấn thấp mà da số họ đều thất nghiệp.
Nếu không thì họ phải làm trong những công việc tay nghề thấp, cường độ cao, thời gian lao động dài, lương thấp. Do đó, lao động của phụ nữ chủ yếu tập trung ở các cơ sở kinh doanh gia đình nghèo, nhà hàng, các ngành dịch vụ khác và giáo dục trẻ sơ sinh. 240] Nhìn chung, trong xã hội Việt Nam sau Đôi Mới, nam giới chủ yếu làm những công việc có tay nghề cao, được trả lương cao, trong khi phụ nữ bị loại ra khỏi cơ cấu thị trường lao động. Do đó, phụ nữ đã chuyên sự chú ý của họ sang di '° Theo số liệu của Cục Thống kê Việt Nam, tính đến tháng 4 năm 1999, dân số nông thôn cả nước có 2.908 nữ trong độ tuổi 24-29, với tỷ lệ giới tính là 101,59.
13 cu nước ngoài để tìm kiếm các cơ hội kinh tế tốt hơn. Những phụ nữ ở trình độ học vấn thấp và không có kỹ năng đặc biệt đã di cư bằng cách kết hôn với đàn ông ở nước ngoài dé có cuộc sống kinh tế tốt hơn. Việc kết hôn với một người đàn ông Hàn Quốc cũng vì lý do này [28, tr. Từ năm 2000 đến 2005, phụ nữ Việt Nam lấy chồng Hàn Quốc chủ yếu là người gốc miền Nam.
Bắt đầu từ sau mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc đến khoảng năm 2010, phụ nữ Việt Nam di cư sang Hàn Quốc chủ yếu là từ các khu vực phía Nam, trong đó nhiều người đến từ Đồng bằng sông Cửu Long. Sau đó, mặc dù số lượng phụ nữ từ miền Bắc kết hôn với đàn ông Hàn Quốc tăng lên, nhưng vẫn có nhiều phụ nữ từ miền Nam (Tây Nam bộ) hon!!. 237] Theo một nghiên cứu về phụ nữ Việt Nam di cư sang Hàn Quốc, hầu hết họ đều có nguồn gốc, quê quán ở khu vực Đồng bằng sông Cửu Long; họ mong muốn lây đàn ông Hàn Quốc vì muốn thoát nghèo và vun vén gia đình. 75] Trước khi kết hôn, họ sống như những nông dân và ngư dân nghèo ở quê nhà, hoặc làm công nhân nhà máy thu nhập thấp ngay cả khi họ sống ở các thành phố lớn.
Sau khi kết hôn với người đàn ông Hàn Quốc, khoảng 70% trong số họ đã chuyên tiền để giúp đỡ gia đình. [24, tr, 238] Ké từ thập ki 90 của thế ki XX đến nay, tình hình kinh tế Việt Nam và quá trình toàn cầu hóa dẫn đến sự trao đổi tích cực về lao động cũng như vốn và hàng hóa, khiến số lượng người di cư ra nước ngoài tăng lên nhanh. Theo số liệu thống kê của IMF năm 2003, kiều hối của họ từ nước ngoài về Việt Nam trở thành nguồn thu ngoại tệ chính của Việt Nam, đạt 2,1 ty USD, tương đương 3% GDP của Việt Nam (tat nhiên, số tiền này cũng bao gồm cả tiền gửi từ các cư dân nước ngoài của Việt Kiều). Khi sự phụ thuộc của nền kinh tế Việt Nam vào nguồn kiều hối ngày càng tăng, chính phủ đã đưa ra nhiều điều khoản về lao động và di cư dé khuyến khích di cư và chuyền tiền.
19 recitation] Di cư kết hôn "| Tai tinh Cà Mau trong 13 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, có trên 1.500 cuộc kết hôn quốc tế với nam giới Hàn Quốc trong khoảng 9 tháng từ tháng 9 năm 2005 đến tháng 5 năm 2006, với trung bình 5 cuộc kết hôn trở lên mỗi ngày. 237] 14 cũng liên quan đến tình hình kinh tế này ở Việt Nam, và tiền gửi của phụ nữ di cư đã kết hôn cũng đóng góp vào nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù lý do kết hôn của đàn ông Hàn Quốc và phụ nữ Việt Nam chủ yếu là yếu tố kinh tế nhưng không thé coi nhẹ yếu tô văn hóa Việt Nam. Đặc biệt, cần hiểu biết cụ thể hơn về văn hóa miền Nam, nơi đang diễn ra nhiều vẫn đề về kết hôn quốc tế.
Ở miền Bắc, phụ nữ tương đối phụ thuộc vào chồng và g1a đình của họ. Nhìn chung, họ có địa vị thấp trong gia đình vi yêu tố phụ hệ tương đối mạnh mẽ dưới ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo Trung Quốc. Ngược lại, cư dân miền Nam Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn của hệ thống gia đình và họ hàng Đông Nam Á nên nó mang nhiều yếu tố của quan hệ họ hàng theo cả hai bên, phụ hệ và mẫu hệ. Yếu tố phụ hệ tương đối yếu và quyền lực của phụ nữ trong gia đình khá cao so với phụ nữ miền Bắc.
Mặt khác, văn hóa miền Nam được pha trộn với văn hóa Cham, Khmer, Trung Quốc và phương Tây, khiến người miền Nam cởi mở và tự do hơn nhiều so với người miền Bắc, và phụ nữ cũng không ngoại lệ. Do đặc điểm của môi trường tự nhiên phía Nam Việt Nam, người dân có lối sống phóng khoáng, quan hệ cộng đồng làng xã không thực sự chặt chẽ. Người phụ nữ trở nên năng động và đủ tự chủ dé đi đến bat kì vùng nào khu vực miền Tây Nam bộ và tham gia các hoạt động thương mai. 179-180] Vì vậy, phụ nữ miền Nam tương đối tiếp xúc tự do với người ngoài, và người ta có thé đoán rằng xu hướng này có thé dẫn đến sự rộng rãi trong hôn nhân quốc tế.
Trong bối cảnh đó, chúng ta có thé hiểu tại sao các cuộc hôn nhân quốc tế với đàn ông Đài Loan và Hàn Quốc thường được thực hiện với phụ nữ miền Nam, đặc biệt là Đồng bằng sông Cửu Long. Cuối cùng, làn sóng Hàn Quốc (Hallyu) ở Việt Nam cũng đang ảnh hưởng đến sự gia tăng kết hôn của phụ nữ Việt Nam với đàn ông Hàn Quốc. Làn sóng Hàn Quốc ở Việt Nam ảnh hưởng rất lớn đến phụ nữ trẻ Việt Nam, đặc biệt họ bị thu hút bởi sự bắt chước về thời trang như trang điểm, kiểu tóc, trang phục của các nhân vật trong phim và việc tiêu thụ các sản phẩm khác của làn sóng này. Phụ nữ nông thôn Việt Nam cũng bị ảnh hưởng bởi các thông tin hào nhoáng trên đài truyền hình.
15 Nhiều phụ nữ nông thôn Việt Nam quyết định kết hôn với đàn ông Hàn Quốc vì họ mơ hồ khao khát Han Quốc và muốn sang Hàn Quốc. Chính phủ Việt Nam quy định việc kết hôn quốc tế phải được môi giới và hỗ trợ bởi Hội Liên hiệp Phụ nữ.