Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố: Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ 20 những quyên không ai có thể xâm phạm được, trong các quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.
Trong lời dẫn của bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ Tịch đã xuất phát từ quyền tự nhiên của con người và Bác coi các quyền này không ai có thể phủ nhận được. Trong các quyền của con người, quyền bình đẳng giữa các dân tộc đóng một vai trò quan trọng, vì nó là cơ sở để thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế. Để thực hiện quan điểm trên, Nhà nước ta ghi nhận và bảo hộ quyền con người trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Đặc biệt trong Hiến pháp 1992, quyền con người được ghi nhận một cách đầy đủ tại Điều 50: “é nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được qui định trong Hiến pháp và luật”.
Quyền thừa kế là quyền của con người trong một chế độ xã hội nhất định, cho nên trong các xã hội khác nhau, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt những mục đích khác nhau. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đất đai nằm trong tay giai cấp chủ nô, những người nông dân hầu như không có tài sản, vì vậy trong xã hội này thừa kế tài sản nhằm củng cố chế độ tư hữu tuyệt đối về đất đai của giai cấp thống trị, cho nên người lao động đấu tranh để thay đổi phương thức chiếm hữu tài sản của giai cấp thống trị và khi giành được chính quyền, đất đai được phân chia cho người lao động, từ đó làm thay đổi các quan hệ thừa kế. Quá trình phát sinh, thay đổi quan hệ thừa kế có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội và cũng chính quan hệ này làm thay đổi các chế độ khác nhau trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Chính vì vậy, điều 21 chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế không ngừng phát triển theo hướng dam bảo quyền con người ngày một tốt hơn.
Về vấn đề này, Ph. Ang-nghen viết: C. Mác là người đầu tiên đã phát hiện, tìm ra qui luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra sự thật đơn giản.là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể lo đến chuyện làm chính tri, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo. Con người sản xuất ra của cải vật chất, đó là yêu cầu khách quan của tồn tại xã hội.
Con người không thể thỏa mãn nhu cầu của mình bằng những cái đã có sẵn trong tự nhiên. Để duy trì và nâng cao đời sống, con người phải sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất không những là cơ sở cho sự tồn tại của con người mà còn là nên tảng để hình thành các quan hệ khác như: quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật, quan hệ đạo đức. Việc sản xuất của con người luôn luôn thay đổi, phát triển, cho nên những quan hệ trên cũng thay đổi và phát triển theo.
Khi chế độ tư hữu và Nhà nước xuất hiện, thừa kế là một công cụ để duy trì quyền lực, giai cấp bóc lột được thừa hưởng di sản cũng đồng nghĩa với việc được thừa hưởng quyền lực của người đó đối với xã hội. Khi Nhà nước ra đời, để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, Nhà nước ban hành pháp luật và qui định cho mỗi cá nhân, tầng lớp trong xã hội được hưởng cái gì và họ phải gánh chịu các nghĩa vụ nào đối với Nhà nước. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế-xã hội đầu tiên theo chế độ phụ quyền, cho nên quyền thừa kế được xác định dựa trên nền tảng của chế độ phụ quyền và gia trưởng. Theo chế độ phụ quyền, quyền lực của người cha là tuyệt đối được xác lập trên các thành viên của gia đình.
Trong gia đình, người nắm quyền gia trưởng toàn quyền quản lý tài sản của gia đình, con cháu không có quyền sở hữu tài sản. Khi người nắm quyền gia trưởng chết, di sản tiếp tục chuyển cho người kế tục quyền gia trưởng quản lý. Bộ luật đầu tiên của chế độ phụ quyền là Bộ luật của Nhà nước chiếm 22 hữu nô lệ Bavilon có tựa đề là Luật Khămurapi (Thế kỷ thứ XVII trước công nguyên). Bộ luật này gồm 282 điều và được chia thành từng nhóm theo nội dung, được phân chia rõ ràng các qui định riêng về hình sự, dân sự, tố tụng.
Chế định dân sự của Bộ luật này qui định quyền sở hữu của vợ, chồng, các hợp đồng dân sự như: cho vay, mua bán, qui định về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc chỉ được thực hiện khi các con trai mang trọng tội, người bố được phép truất quyền thừa kế của con trai và di chúc cho người khác hưởng. Khi chia di sản các con được hưởng kỷ phần ngang nhau. Những qui định về thừa kế của Nhà nước chiếm hữu nô lệ được phát triển và hoàn thiện hơn trong Luật XII bảng và các đạo luật khác của Nhà nước La Mã cổ đại hay được gọi là Luật La Mã.
Trong Luật La Mã, chế định thừa kế tương đối hoàn chỉnh. Mặc dù cấu trúc của chế định thừa kế không chia thành các phần rõ ràng, tuy nhiên có các qui định chung và các qui định chia di sản theo pháp luật, chia di sản theo di chúc. ở các Nhà nước phong kiến và tư bản, phần lớn tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về giai cấp thống trị, người lao động không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho địa chủ và các nhà tư bản, vì vậy pháp luật về thừa kế thực chất là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân của giai cấp thống trị đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong chế độ XHCN, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân lao động, Nhà nước bảo hộ thu nhập hợp pháp của cá nhân, gia đình từ các hệ thống kinh tế khác nhau.
Cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyên để lại thừa kế cho người khác hưởng. Ăng-nghen khẳng định trong Tuyên ngôn của Dang cộng sản: "Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ cua ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm của xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu đó để bóc lột lao động của người khác". Ngày nay, ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào chế độ chính trị, chế độ sở 23 hữu va phong tục, tập quán của nhân dân trong quốc gia đó, mỗi Nha nước điều chỉnh quan hệ thừa kế có sự khác nhau.
Ở Việt Nam, nhân dân ta đã và đang xây dựng CNXH mà nền tảng kinh tế của xã hội là chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất và được thể hiện tại Điều 17 Hiến pháp 1992: "Đất đai, rừng núi, sông hồ tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển. là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân". Như vậy, theo Hiến pháp, cá nhân không có quyền sở hữu đất đai, nhưng có quyền sử dụng, Nhà nước cho phép cá nhân, hộ gia đình để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật, tạo điều kiện cho cá nhân an tâm lao động sản xuất, đầu tư vốn, công sức, trí tuệ để sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều của cải cho gia đình và xã hội. Cá nhân có quyền sở hữu các loại tài sản mà pháp luật không cấm, khi còn sống họ định đoạt tài sản bằng nhiều phương thức khác nhau như: bán, cho thuê, cho vay, cho tặng hoặc lập di chúc để định đoạt cho người khác sau khi họ chết.
Khi mở thừa kế, nếu có di chúc, di sản được chia theo di chúc, Nhà nước luôn luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ý chí của người lập di chúc bị hạn chế theo Điều 669 BLDS. Trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, di sản chia theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ gia đình đối với người để lại di sản.
Người thừa kế nhận di sản, phải thực hiện nghĩa vụ của người chết trong phạm vi di sản hưởng. Mặt khác, nếu người để lại thừa kế giao nghĩa vụ quản lý di sản thờ cúng, thì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Ngoài ra, di sản là di tích văn hoá như nhà thờ, nhà rường được xếp hạng di tích, những người thừa kế có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản các giá trị văn hoá đó theo qui định của Luật Di sản Văn hoá. Như vậy, trong các chế độ xã hội khác nhau, con người đều có quyền thừa kế tài sản, tuy nhiên phạm vi quyền thừa kế được bảo hộ thế nào do bản chất chế độ xã hội quyết định.
Pháp luật của các Nhà nước đều qui định cá 24 nhân có quyền để lại di sản và có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Nghiên cứu về quyền thừa kế của cá nhân với tư cách là một quyền dân sự, tác giả Phùng Trung Tập đưa ra khái niệm: Quyền thừa kế được hiểu là quyển dân sự cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ. Theo phương diện này, thì moi công dân có quyền như nhau trong việc để lại di sản của mình cho những người thừa kế và đều có quyền như nhau trong việc nhận di sản do người khác để lại. Khái niệm trên chưa bao quát được quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế.
Mặt khác, trong khái niệm mới thể hiện được quyền thừa kế của cá nhân, chưa thể hiện được quyền thừa kế của tổ chức. Theo qui định của pháp luật, tổ chức có quyền thừa kế theo di chúc. Điều 635 BLDS qui định tổ chức là người thừa kế theo di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Mặt khác, thừa kế là một quan hệ pháp luật về tài sản, do vậy liên quan đến quan hệ này còn nhiều chủ thể khác như người quản lý di sản và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.