Nghiên Cứu Về Quy Định Thừa Kế Trong Bộ Luật Dân Sự Việt Nam

Luận án tiến sĩ phân tích lý luận và thực tiễn về quy định chung về thừa kế trong bộ luật dân sự, cung cấp cái nhìn sâu sắc và toàn diện.

Chuyên ngành

Luật Dân Sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2007

191
6
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CUA NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VE THỪA KE

1.1. Khái niệm quyền thừa kế va những qui định chung về thừa kế

1.2. Khái niệm thừa kế và quyền thừa kế

1.3. Khái niệm các qui định chung về thừa kế

1.3.1. Quá trình phát triển kinh tế-xã hội và nhu cầu, mục tiêu điều chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế

1.3.2. Những qui định chung về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam qua các thời kỳ phát triển

1.3.2.1. Những qui định chung về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam từ thế kỷ XV đến năm 1945
1.3.2.2. Sự phát triển những qui định chung về thừa kế trong pháp luật dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay
1.3.2.3. Kinh nghiệm xây dựng những qui định chung về thừa kế của các nước

2. CHƯƠNG 2: NOI DUNG VÀ THUC TIEN ÁP DỤNG NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VE THỪA KE

2.1. Quyền thừa kế của cá nhân

2.2. Thời điểm, địa điểm mở thừa kế

2.3. Di sản và phân loại di sản

2.4. Người thừa kế và người quản lý di sản

2.5. Những người có quyền thừa kế của nhau nhưng được coi là chết cùng thời điểm

2.6. Thời hiệu khởi kiện giải quyết tranh chấp về thừa kế

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN NHỮNG QUI ĐỊNH CHUNG VE THỪA KE TRONG GIAI DOAN HIỆN NAY

3.1. Nhu cầu, phương hướng hoàn thiện những qui định chung về thừa kế

3.2. Giải pháp hoàn thiện những qui định chung về thừa kế

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quy Định Thừa Kế Trong Bộ Luật Dân Sự

Nghiên cứu các quy định của pháp luật về thừa kế có vai trò quan trọng trong việc tiếp cận quyền con người ở nhiều chế độ xã hội khác nhau. Thừa kế, quyền thừa kế được xem xét dưới nhiều góc độ như xã hội học, triết học, kinh tế và pháp lý để xây dựng và hoàn thiện khái niệm. Trong gia đình, quan hệ thừa kế gắn với hôn nhân, huyết thống và nuôi dưỡng. Khi một thành viên qua đời, tài sản của người đó chuyển cho người còn sống. Tài sản ông bà, cha mẹ để lại cho con cháu là thành quả lao động, kinh nghiệm quý báu trong sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên. Do đó, thừa kế không chỉ đơn thuần là việc chuyển giao tài sản mà còn là chuyển giao giá trị vật chất và tinh thần từ thế hệ trước cho thế hệ sau. Quá trình phát triển của thừa kế gắn liền với lịch sử loài người. Thừa kế tài sản trong xã hội nguyên thủy là sự kế thừa tự nhiên, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của gia đình, thị tộc và xã hội.

1.1. Khái niệm Thừa Kế và Quyền Thừa Kế

Thừa kế là việc chuyển giao tài sản của người đã chết cho người còn sống theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Quyền thừa kế là quyền của cá nhân được nhận di sản thừa kế, được định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Theo Bộ luật Dân sự, quyền thừa kế là một trong những quyền dân sự cơ bản của công dân, được pháp luật bảo vệ. Quyền này bao gồm quyền lập di chúc, quyền chỉ định người thừa kế, quyền định đoạt tài sản thừa kế và quyền nhận di sản thừa kế.

1.2. Di Sản Thừa Kế Khái niệm và Đặc điểm

Di sản thừa kế là toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người chết để lại, bao gồm tài sản riêng và phần tài sản chung của người chết trong khối tài sản chung với người khác. Di sản thừa kế có thể là bất động sản (nhà, đất), động sản (xe, tiền, vàng), hoặc các quyền tài sản khác (quyền sở hữu trí tuệ, quyền đòi nợ). Giá trị của di sản thừa kế được xác định tại thời điểm mở thừa kế, tức là thời điểm người để lại di sản qua đời.

II. Các Hình Thức Thừa Kế Cơ Bản Theo Bộ Luật Dân Sự

Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định hai hình thức thừa kế chính: thừa kế theo di chúcthừa kế theo pháp luật. Mỗi hình thức có những đặc điểm và điều kiện riêng. Thừa kế theo di chúc là việc chuyển giao di sản theo ý chí của người để lại di sản, được thể hiện trong di chúc hợp pháp. Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp, di chúc chỉ định một phần di sản. Khi đó, di sản được chia cho những người thừa kế theo thứ tự ưu tiên và tỷ lệ do pháp luật quy định.

2.1. Thừa Kế Theo Di Chúc Điều kiện và Hiệu lực

Thừa kế theo di chúc là hình thức thừa kế mà người chết để lại di chúc hợp pháp. Di chúc phải được lập thành văn bản, có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật, được công chứng hoặc chứng thực (trừ một số trường hợp đặc biệt). Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế (thời điểm người để lại di sản chết). Người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế, định đoạt tài sản thừa kế và thực hiện các nghĩa vụ liên quan đến di sản.

2.2. Thừa Kế Theo Pháp Luật Hàng Thừa Kế và Phân Chia

Thừa kế theo pháp luật được áp dụng khi không có di chúc hoặc di chúc không hợp lệ. Bộ luật Dân sự quy định các hàng thừa kế theo thứ tự ưu tiên: hàng thứ nhất (vợ, chồng, cha mẹ đẻ, cha mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi), hàng thứ hai (ông bà nội ngoại, anh chị em ruột), hàng thứ ba (cô dì chú bác ruột). Di sản được chia đều cho những người cùng hàng thừa kế. Nếu không có người thừa kế ở hàng thứ nhất, thì di sản được chia cho những người ở hàng thứ hai, và cứ thế tiếp tục.

2.3. Quy Định Về Người Thừa Kế Không Phụ Thuộc Nội Dung Di Chúc

Điều 644 của Bộ Luật Dân Sự quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc, bao gồm con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng, nếu họ không có khả năng lao động. Những người này được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật. Điều này nhằm bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế, phụ thuộc vào người để lại di sản. Dẫn chứng: “...con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; nếu không có khả năng lao động...”

III. Giải Quyết Tranh Chấp Thừa Kế Thời Hiệu và Thủ Tục

Tranh chấp thừa kế là vấn đề phức tạp và thường gặp. Việc giải quyết tranh chấp này đòi hỏi sự am hiểu pháp luật và kinh nghiệm thực tiễn. Thời hiệu khởi kiện để yêu cầu chia di sản thừa kế là 30 năm đối với bất động sản và 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Thủ tục giải quyết tranh chấp thừa kế có thể thông qua hòa giải hoặc khởi kiện tại tòa án.

3.1. Thời Hiệu Khởi Kiện Về Thừa Kế Cần Lưu Ý Điều Gì

Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà người có quyền khởi kiện được phép thực hiện quyền này. Sau khi hết thời hiệu, quyền khởi kiện sẽ bị mất. Trong lĩnh vực thừa kế, việc xác định đúng thời hiệu rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan. Cần lưu ý rằng thời hiệu được tính từ thời điểm mở thừa kế, không phải từ thời điểm phát sinh tranh chấp.

3.2. Thủ Tục Giải Quyết Tranh Chấp Thừa Kế Tại Tòa Án

Nếu hòa giải không thành, các bên có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Hồ sơ khởi kiện bao gồm đơn khởi kiện, giấy tờ chứng minh quan hệ thừa kế, giấy tờ về di sản và các tài liệu liên quan khác. Tòa án sẽ tiến hành thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ và tổ chức phiên tòa xét xử. Phán quyết của Tòa án có giá trị pháp lý ràng buộc đối với các bên.

IV. Hoàn Thiện Quy Định Thừa Kế Trong Bộ Luật Dân Sự

Để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân và phù hợp với sự phát triển của xã hội, việc hoàn thiện các quy định về thừa kế trong Bộ luật Dân sự là cần thiết. Cần nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định còn bất cập, chưa rõ ràng, hoặc chưa phù hợp với thực tiễn. Đặc biệt, cần chú trọng đến việc bảo vệ quyền lợi của những người yếu thế trong quan hệ thừa kế.

4.1. Các Vấn Đề Bất Cập và Hướng Sửa Đổi Quy Định Thừa Kế

Một số vấn đề bất cập hiện nay bao gồm quy định về di sản dùng vào việc thờ cúng, quy định về thừa kế thế vị, quy định về thời hiệu khởi kiện. Cần có hướng dẫn cụ thể, chi tiết hơn về những vấn đề này để đảm bảo áp dụng thống nhất trong thực tiễn. Ngoài ra, cần bổ sung quy định về thừa kế đối với tài sản hình thành trong tương lai, tài sản số.

4.2. Đề Xuất Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thi Hành Quy Định

Để nâng cao hiệu quả thi hành, cần tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về thừa kế đến người dân. Đồng thời, cần nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ tư pháp, thẩm phán trong việc giải quyết các tranh chấp về thừa kế. Việc xây dựng án lệ cũng là một giải pháp quan trọng để đảm bảo áp dụng pháp luật một cách thống nhất và công bằng.

V. Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài Quy Định và Lưu Ý Quan Trọng

Khi có yếu tố nước ngoài (ví dụ: người thừa kế hoặc di sản ở nước ngoài), việc giải quyết thừa kế trở nên phức tạp hơn do liên quan đến pháp luật của nhiều quốc gia. Điều quan trọng là phải xác định được luật áp dụng cho quan hệ thừa kế, cũng như tuân thủ các quy định về công nhận và thi hành bản án, quyết định của tòa án nước ngoài.

5.1. Xác Định Luật Áp Dụng Cho Thừa Kế Có Yếu Tố Nước Ngoài

Theo pháp luật Việt Nam, việc xác định luật áp dụng cho thừa kế có yếu tố nước ngoài tuân theo các quy tắc xung đột pháp luật. Thông thường, luật của nước nơi người để lại di sản có quốc tịch hoặc nơi người đó thường trú sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, các bên có thể thỏa thuận chọn luật áp dụng, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

5.2. Thủ Tục Công Nhận và Thi Hành Bản Án Nước Ngoài Về Thừa Kế

Nếu bản án, quyết định của tòa án nước ngoài liên quan đến thừa kế cần được thi hành tại Việt Nam, cần thực hiện thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định này theo quy định của pháp luật Việt Nam. Thủ tục này bao gồm việc nộp hồ sơ tại Tòa án Việt Nam, Tòa án sẽ xem xét tính hợp pháp của bản án nước ngoài và quyết định có công nhận và cho thi hành hay không.

VI. Quản Lý Di Sản Khi Chưa Có Người Thừa Kế Quy Định và Thực Tiễn

Trong trường hợp di sản không có người thừa kế, hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản, thì việc quản lý di sản trở nên phức tạp. Pháp luật quy định về việc quản lý và thanh lý di sản trong trường hợp này, nhằm bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan và đảm bảo di sản được sử dụng đúng mục đích.

6.1. Các Phương Pháp Quản Lý và Bảo Toàn Di Sản Không Có Người Thừa Kế

Khi không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ thực hiện việc quản lý di sản. Việc quản lý bao gồm việc kiểm kê, bảo quản và sử dụng di sản một cách hợp lý. Trong một số trường hợp, di sản có thể được bán đấu giá để đảm bảo giá trị của di sản.

6.2. Thanh Lý Di Sản Quy Định Về Xử Lý và Phân Phối Tài Sản

Sau khi đã quản lý và bảo toàn di sản, cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành thanh lý di sản. Tài sản thanh lý được sử dụng để trả các khoản nợ của người chết (nếu có), sau đó phần còn lại sẽ được sung công quỹ nhà nước. Việc thanh lý di sản phải tuân thủ các quy định của pháp luật để đảm bảo tính minh bạch và công bằng.

28/05/2025
Luận án tiến sĩ luật học cơ sở lý luận và thực tiễn của những qui định chung về thừa kế trong bộ luật dân sự

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố: Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ 20 những quyên không ai có thể xâm phạm được, trong các quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Lời bất hủ trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Trong lời dẫn của bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ Tịch đã xuất phát từ quyền tự nhiên của con người và Bác coi các quyền này không ai có thể phủ nhận được. Trong các quyền của con người, quyền bình đẳng giữa các dân tộc đóng một vai trò quan trọng, vì nó là cơ sở để thực hiện các quyền chính trị, dân sự, kinh tế. Để thực hiện quan điểm trên, Nhà nước ta ghi nhận và bảo hộ quyền con người trong các Hiến pháp 1946, 1959, 1980. Đặc biệt trong Hiến pháp 1992, quyền con người được ghi nhận một cách đầy đủ tại Điều 50: “é nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được qui định trong Hiến pháp và luật”.

Quyền thừa kế là quyền của con người trong một chế độ xã hội nhất định, cho nên trong các xã hội khác nhau, Nhà nước điều chỉnh quan hệ thừa kế nhằm đạt những mục đích khác nhau. Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, đất đai nằm trong tay giai cấp chủ nô, những người nông dân hầu như không có tài sản, vì vậy trong xã hội này thừa kế tài sản nhằm củng cố chế độ tư hữu tuyệt đối về đất đai của giai cấp thống trị, cho nên người lao động đấu tranh để thay đổi phương thức chiếm hữu tài sản của giai cấp thống trị và khi giành được chính quyền, đất đai được phân chia cho người lao động, từ đó làm thay đổi các quan hệ thừa kế. Quá trình phát sinh, thay đổi quan hệ thừa kế có nguồn gốc sâu xa từ sự phát triển của các quan hệ kinh tế, xã hội và cũng chính quan hệ này làm thay đổi các chế độ khác nhau trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. Chính vì vậy, điều 21 chỉnh pháp luật các quan hệ thừa kế không ngừng phát triển theo hướng dam bảo quyền con người ngày một tốt hơn.

Về vấn đề này, Ph. Ang-nghen viết: C. Mác là người đầu tiên đã phát hiện, tìm ra qui luật phát triển của lịch sử loài người, nghĩa là tìm ra sự thật đơn giản.là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc trước khi có thể lo đến chuyện làm chính tri, khoa học, nghệ thuật, tôn giáo. Con người sản xuất ra của cải vật chất, đó là yêu cầu khách quan của tồn tại xã hội.

Con người không thể thỏa mãn nhu cầu của mình bằng những cái đã có sẵn trong tự nhiên. Để duy trì và nâng cao đời sống, con người phải sản xuất ra của cải vật chất. Sản xuất không những là cơ sở cho sự tồn tại của con người mà còn là nên tảng để hình thành các quan hệ khác như: quan hệ chính trị, quan hệ pháp luật, quan hệ đạo đức. Việc sản xuất của con người luôn luôn thay đổi, phát triển, cho nên những quan hệ trên cũng thay đổi và phát triển theo.

Khi chế độ tư hữu và Nhà nước xuất hiện, thừa kế là một công cụ để duy trì quyền lực, giai cấp bóc lột được thừa hưởng di sản cũng đồng nghĩa với việc được thừa hưởng quyền lực của người đó đối với xã hội. Khi Nhà nước ra đời, để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp thống trị, Nhà nước ban hành pháp luật và qui định cho mỗi cá nhân, tầng lớp trong xã hội được hưởng cái gì và họ phải gánh chịu các nghĩa vụ nào đối với Nhà nước. Trong chế độ chiếm hữu nô lệ, hình thái kinh tế-xã hội đầu tiên theo chế độ phụ quyền, cho nên quyền thừa kế được xác định dựa trên nền tảng của chế độ phụ quyền và gia trưởng. Theo chế độ phụ quyền, quyền lực của người cha là tuyệt đối được xác lập trên các thành viên của gia đình.

Trong gia đình, người nắm quyền gia trưởng toàn quyền quản lý tài sản của gia đình, con cháu không có quyền sở hữu tài sản. Khi người nắm quyền gia trưởng chết, di sản tiếp tục chuyển cho người kế tục quyền gia trưởng quản lý. Bộ luật đầu tiên của chế độ phụ quyền là Bộ luật của Nhà nước chiếm 22 hữu nô lệ Bavilon có tựa đề là Luật Khămurapi (Thế kỷ thứ XVII trước công nguyên). Bộ luật này gồm 282 điều và được chia thành từng nhóm theo nội dung, được phân chia rõ ràng các qui định riêng về hình sự, dân sự, tố tụng.

Chế định dân sự của Bộ luật này qui định quyền sở hữu của vợ, chồng, các hợp đồng dân sự như: cho vay, mua bán, qui định về thừa kế theo di chúc, thừa kế theo pháp luật. Thừa kế theo di chúc chỉ được thực hiện khi các con trai mang trọng tội, người bố được phép truất quyền thừa kế của con trai và di chúc cho người khác hưởng. Khi chia di sản các con được hưởng kỷ phần ngang nhau. Những qui định về thừa kế của Nhà nước chiếm hữu nô lệ được phát triển và hoàn thiện hơn trong Luật XII bảng và các đạo luật khác của Nhà nước La Mã cổ đại hay được gọi là Luật La Mã.

Trong Luật La Mã, chế định thừa kế tương đối hoàn chỉnh. Mặc dù cấu trúc của chế định thừa kế không chia thành các phần rõ ràng, tuy nhiên có các qui định chung và các qui định chia di sản theo pháp luật, chia di sản theo di chúc. ở các Nhà nước phong kiến và tư bản, phần lớn tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về giai cấp thống trị, người lao động không có tư liệu sản xuất phải làm thuê cho địa chủ và các nhà tư bản, vì vậy pháp luật về thừa kế thực chất là bảo hộ quyền sở hữu tư nhân của giai cấp thống trị đối với tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội. Trong chế độ XHCN, tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân lao động, Nhà nước bảo hộ thu nhập hợp pháp của cá nhân, gia đình từ các hệ thống kinh tế khác nhau.

Cá nhân có quyền sở hữu tài sản thì có quyên để lại thừa kế cho người khác hưởng. Ăng-nghen khẳng định trong Tuyên ngôn của Dang cộng sản: "Chủ nghĩa cộng sản không tước bỏ cua ai cái quyền chiếm hữu những sản phẩm của xã hội cả. Chủ nghĩa cộng sản chỉ tước bỏ quyền dùng sự chiếm hữu đó để bóc lột lao động của người khác". Ngày nay, ở mỗi quốc gia, phụ thuộc vào chế độ chính trị, chế độ sở 23 hữu va phong tục, tập quán của nhân dân trong quốc gia đó, mỗi Nha nước điều chỉnh quan hệ thừa kế có sự khác nhau.

Ở Việt Nam, nhân dân ta đã và đang xây dựng CNXH mà nền tảng kinh tế của xã hội là chế độ công hữu hóa tư liệu sản xuất và được thể hiện tại Điều 17 Hiến pháp 1992: "Đất đai, rừng núi, sông hồ tài nguyên trong lòng đất, nguồn lợi vùng biển. là của Nhà nước, đều thuộc sở hữu toàn dân". Như vậy, theo Hiến pháp, cá nhân không có quyền sở hữu đất đai, nhưng có quyền sử dụng, Nhà nước cho phép cá nhân, hộ gia đình để lại thừa kế quyền sử dụng đất cho người khác theo di chúc hoặc theo pháp luật, tạo điều kiện cho cá nhân an tâm lao động sản xuất, đầu tư vốn, công sức, trí tuệ để sản xuất kinh doanh, tạo ra nhiều của cải cho gia đình và xã hội. Cá nhân có quyền sở hữu các loại tài sản mà pháp luật không cấm, khi còn sống họ định đoạt tài sản bằng nhiều phương thức khác nhau như: bán, cho thuê, cho vay, cho tặng hoặc lập di chúc để định đoạt cho người khác sau khi họ chết.

Khi mở thừa kế, nếu có di chúc, di sản được chia theo di chúc, Nhà nước luôn luôn tôn trọng ý chí của người lập di chúc. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt, ý chí của người lập di chúc bị hạn chế theo Điều 669 BLDS. Trường hợp người để lại di sản không lập di chúc, di sản chia theo pháp luật. Người thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ gia đình đối với người để lại di sản.

Người thừa kế nhận di sản, phải thực hiện nghĩa vụ của người chết trong phạm vi di sản hưởng. Mặt khác, nếu người để lại thừa kế giao nghĩa vụ quản lý di sản thờ cúng, thì người thừa kế phải thực hiện nghĩa vụ thờ cúng. Ngoài ra, di sản là di tích văn hoá như nhà thờ, nhà rường được xếp hạng di tích, những người thừa kế có nghĩa vụ giữ gìn, bảo quản các giá trị văn hoá đó theo qui định của Luật Di sản Văn hoá. Như vậy, trong các chế độ xã hội khác nhau, con người đều có quyền thừa kế tài sản, tuy nhiên phạm vi quyền thừa kế được bảo hộ thế nào do bản chất chế độ xã hội quyết định.

Pháp luật của các Nhà nước đều qui định cá 24 nhân có quyền để lại di sản và có quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Nghiên cứu về quyền thừa kế của cá nhân với tư cách là một quyền dân sự, tác giả Phùng Trung Tập đưa ra khái niệm: Quyền thừa kế được hiểu là quyển dân sự cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ. Theo phương diện này, thì moi công dân có quyền như nhau trong việc để lại di sản của mình cho những người thừa kế và đều có quyền như nhau trong việc nhận di sản do người khác để lại. Khái niệm trên chưa bao quát được quyền và nghĩa vụ của chủ thể trong quan hệ thừa kế.

Mặt khác, trong khái niệm mới thể hiện được quyền thừa kế của cá nhân, chưa thể hiện được quyền thừa kế của tổ chức. Theo qui định của pháp luật, tổ chức có quyền thừa kế theo di chúc. Điều 635 BLDS qui định tổ chức là người thừa kế theo di chúc phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế. Mặt khác, thừa kế là một quan hệ pháp luật về tài sản, do vậy liên quan đến quan hệ này còn nhiều chủ thể khác như người quản lý di sản và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Quy Định Thừa Kế Trong Bộ Luật Dân Sự Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý liên quan đến thừa kế trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các điều khoản cụ thể trong Bộ Luật Dân Sự mà còn nêu rõ những quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan trong quá trình thừa kế. Đặc biệt, nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về cách thức phân chia di sản và các vấn đề pháp lý có thể phát sinh trong thực tiễn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Phân chia di sản thừa kế theo quy định pháp luật việt nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về quy trình và các yếu tố ảnh hưởng đến việc phân chia di sản. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học thừa kế theo pháp luật theo bộ luật dân sự nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam năm 2015 sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các nghiên cứu và phân tích sâu sắc trong lĩnh vực thừa kế. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ luật học phân chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và thực tiễn tại tòa án nhân dân huyện hải hậu tỉnh nam định sẽ cung cấp thêm thông tin về thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc phân chia quyền sử dụng đất trong thừa kế.

Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy định thừa kế mà còn mở ra nhiều khía cạnh khác nhau để bạn có thể khám phá và nâng cao kiến thức của mình trong lĩnh vực pháp luật dân sự.