Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BẢN VE VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN LY HÔN TẠI TÒA ÁN 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về ly hôn và giải quyết ly hôn tại Tòa án 1. Khai niệm ly hôn Quan hệ hôn nhân với đặc điểm tổn tại lâu dài, bền vững cho đến suốt cuộc đời con người vì nó được xác lập trên cơ sở tình yêu thương, gắn bó giữa vợ chồng. Tuy nhiên, trong cuộc sống vợ chồng, vì những lý do nào đó dẫn tới giữa vợ chồng có mâu thuẫn sâu sắc đến mức họ không thé chung sống với nhau nữa, van đề ly hôn được đặt ra dé giải phóng cho vợ chồng và các thành viên khác thoát khỏi mâu thuẫn gia đình.
Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thé thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức, tình cảm vợ chồng đã thực sự tan vỡ. Vấn đề ly hôn được quy định trong hệ thống pháp luật của mỗi quốc gia là khác nhau. Một số nước cắm vợ chồng ly hôn (theo Đạo thiên chúa), bởi vì theo họ quan hệ vo chong bi ràng buộc thiêng liêng theo ý Chúa. Một số nước thì hạn chế ly hôn bang cách đưa ra những điều kiện hết sức nghiêm ngặt.
Cam ly hôn hay hạn chế ly hôn đều trái với quyền tự do dân chủ của cá nhân. Pháp luật của Việt Nam công nhận quyền tự do ly hôn chính đáng của vợ chồng, không cắm hoặc đặt ra những những điều kiện nhằm hạn chế quyền tự do ly hôn. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết qua của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyền ly hôn của minh. Nhà nước bằng pháp luật không thể cưỡng ép nam, nữ phải yêu nhau và kết hôn với nhau, thì cũng không thể bắt buộc vợ chồng phải chung sống với nhau, phải duy trì quan hệ hôn nhân khi tình cảm yêu thương gắn bó giữa họ đã hết và mục đích của hôn nhân đã không thê đạt được.
Việc giải quyết ly hôn là tất yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ. Điều đó là hoàn toàn có lợi cho vợ chồng, con cái và các thành viên trong gia đình. Nhưng bên cạnh đó, ly hôn cũng có mặt hạn chế đó là sự ly tán gia đình, vợ chồng, con cái. Vì vậy, khi giải quyết ly hôn, Toà án phải tìm hiểu kỹ nguyên nhân và bản chất của quan hệ vợ chồng và thực trạng hôn nhân với nhiều yếu tô khác dé dam bảo quyên lợi cho các thành viên trong gia đình, lợi ích của nhà nước và của xã hội.
Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật HN&GD năm 2014 có giải thích: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chong theo ban an, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án ”[]. Xét về mặt xã hội, ly hôn chính là giải pháp giải quyết sự khủng hoảng trong mối quan hệ vợ chồng. Ly hôn là mặt trái của hôn nhân nhưng là mặt không thé thiếu được khi quan hệ hôn nhân tồn tại chỉ còn là hình thức, còn thực chất mối quan hệ vợ chồng đã hoàn toàn tan vỡ, cuộc sông gia đình vợ chồng đã mat hết ý nghĩa, vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau. Xét về mặt pháp lý thì ly hôn là một sự kiện pháp ly làm cham dứt các nghĩa vụ, quyền giữa vợ và chồng trên cơ sở yêu cầu của vợ chồng va được Tòa án công nhận.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu ly hôn là sự kiện pháp lý do Toà án phán quyết bằng quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc băng bản án ly hôn trên cơ sở căn cứ ly hôn theo luật định làm chấm dứt các quyền, nghĩa vụ pháp lý của vợ, chồng trước pháp luật. Khái niệm giải quyết ly hôn Chấm dứt hôn nhân bằng ly hôn là kết qủa của hành vi có ý chí của các bên VỢ, chồng hoặc cả hai vợ chồng. Việc chấm dứt qua hệ vợ chồng bang pháp luật, khi có yêu cầu ly hôn, Tòa án xem xét dựa vào các căn cứ ly hôn. Chỉ khi Tòa án xét thấy các bên không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, quan hệ vợ chồng không thé hàn gắn được thì Tòa án mới giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Cơ quan duy nhất có thầm quyền giải quyết ly hôn là Tòa án nhân dân. Tòa án chỉ thụ lý và giải quyết vụ, việc ly hôn khi có yêu cầu của vợ hoặc chồng hoặc của cả vợ, chồng làm phát sinh vụ án ly hôn. Những quy định như vậy nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc tự nguyện của đương sự. Ly hôn dựa trên sự tự nguyện của vợ chồng, nó là kết quả của hành vi có ý chí của vợ chồng khi thực hiện quyên ly hôn của mình.
Việc giải quyết ly hôn là tat yếu đối với quan hệ hôn nhân đã thực sự tan vỡ, quan hệ vợ chồng không thé tồn tại được nữa, vì sự tồn tại của nó chỉ là bề ngoài và giả đối và ly hôn là một giải pháp tích cực để giải phóng cho vợ chồng cũng như các thành viên khác trong gia đình khỏi cảnh bất bình thường đó, đảm bảo lợi ích của vợ chồng, của gia đình và xã hội. ! Khoản 14 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Vì vậy, giải quyết ly hôn là việc Tòa án các cấp vận dụng hệ thống các quy phạm pháp luật dé giải quyết các mối quan hệ trong hôn nhân và gia đình. Trong đó, việc giải quyết ly hôn phải dựa trên cơ sở yêu cầu của vợ hoặc chồng và có căn cứ ly hôn rõ ràng để Tòa án ra quyết định cho ly hôn. Nội dung pháp luật hiện hành về giải quyết các vụ án ly hôn tại Tòa án 1.
Quy định về quyền yêu cầu ly hôn và hạn chế quyên ly hôn 1. Quy định về quyén yêu cau ly hôn Về nguyên tắc, khi thực hiện quyền yêu cau giải quyết ly hôn kế cả trường hợp một bên xin ly hôn hay trường hợp cả hai bên vợ, chồng đồng thuận ly hôn, mỗi cá nhân đều phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản quy định trong Luật HN&GĐ. Ngoài ra, để bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình, pháp luật nước ta đã quy định các điều cắm hay điều kiện hạn chế đối với cá nhân khi thực hiện quyền yêu cầu ly hôn. Các bên không được vi phạm các điều cấm hay điều kiện hạn chế mà pháp luật quy định.
Trong trường hợp vi phạm thì quyền yêu cầu giải quyết ly hôn sẽ không được chấp nhận. Khi mâu thuẫn vợ chồng đã đi đến căng thăng, mọi sự cố gắng, níu kéo cũng như nỗ lực hòa giải đều đi đến bế tắc thì ý định ly hôn là giải pháp được mọi người lựa chọn. Về quyền yêu cầu giải quyết ly hôn được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật HN&GD năm 2014 như sau: 1. Vợ, chong hoặc cả hai người có quyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Cha, mẹ, người thân thích khác có quyên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vo, chong do bi bệnh tâm than hoặc mắc bệnh khác mà không thé nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của ho gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trong dén tinh mang, suc khoe, tinh than cua ho. Theo quy định tai khoản 1 thi vợ, chồng đều có quyền như nhau trong việc yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toa án phải tiễn hành hoà giải, trong trường hợp hoà giải không thành thì Toa án ? Khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 lập biên bản hoà giải không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung. Luật HN&GD năm 2014 bổ sung thêm đối tượng được yêu cầu giải quyết ly hôn là cha, mẹ, người thân thích khác trong trường hợp một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác được quy định cụ thé tại khoản 2 Điều 51 của Luật HN&GD năm 2014.
Theo đó, thay vi chỉ vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn như trước đây thì từ ngày 01/01/2015, cha, mẹ, người thân thích khác cũng có thé yêu cầu giải quyết ly hôn khi một bên vo, chéng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác ma không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Quy định này đã tháo gỡ cho nhiều trường hợp bức xúc muốn xin ly hôn giùm người thân bị mất năng lực hành vi mà không được do luật cũ chỉ quy định việc ly hôn phải do chính đương sự (vợ, chồng) yêu cầu, trong khi họ lại bi mat năng lực hành vi dân sự dẫn đến không có năng lực hành vi tố tung dân sự dé xin ly hôn. Quy định về hạn chế quyén ly hôn. Về nguyên tắc, vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn.
Tuy nhiên có một hạn chế đó là trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN&GD năm 2014 “Chong không có quyên yêu cau ly hôn trong trường hop vợ dang có thai, sinh con hoặc dang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [`] Thứ nhất, việc hạn chế quyền ly hôn chỉ đành cho người chồng chứ không hạn chế yêu cầu ly hôn của người vợ trong mọi trường hợp. Nếu người vợ đang mang thai, đang sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuôi thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trong, tình yêu và trách nhiệm không còn, duy trì tình trạng hôn nhân sẽ không đảm bảo đến sức khỏe của mình, của thai nhi, hay của con nhỏ thì người vợ có thê gửi đơn đến Tòa án, và Tòa án sẽ xem xét và giải quyết theo thủ tục chung. Thứ hai, Điều này được áp dụng ngay cả trong trường hợp người vợ đang mang thai với người khác hoặc bố của đứa trẻ là ai thì người chồng vẫn bị hạn chế quyên ly hôn.