phần mở đầu và phần kết luận thì luận văn cao học gồm có ba chƣơng. Cụ thể: Chƣơng 1: Những vấn đề pháp lý cơ bản về hòa giải tranh chấp kinh doanh thƣơng mại. Chƣơng 2: Pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại bằng phƣơng thức hòa giải ở Việt Nam và thực tiễn thi hành. Chƣơng 3: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thƣơng mại ở Việt Nam.
4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HÒA GIẢI TRANH CHẤP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm tranh chấp kinh doanh thƣơng mại. Khái niệm kinh doanh thương mại. Tự do hóa kinh tế kết hợp với sự tiến bộ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã thúc đẩy nhanh sự đan kết của thị trƣờng hàng hóa và dịch vụ của các nƣớc với nhau để hình thành nên thị trƣờng toàn cầu.
Cùng với xu thế này hoạt động kinh doanh thƣơng mại ra đời. Kinh doanh thƣơng mại là hoạt động lƣu thông phân phối hàng hoá trên thị trƣờng buôn bán hàng hoá của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau. Nội thƣơng là lĩnh vực hoạt động thƣơng mại trong từng nƣớc, thực hiện quá trình lƣu chuyển hàng hoá từ nơi sản xuất, nhập khẩu tới nơi tiêu dùng. Trong kinh doanh thƣơng mại nói chung và hoạt động nội thƣơng nói riêng, cần xuất phát từ đặc điểm quan hệ thƣơng mại và tiềm năng kinh doanh với các bạn hàng để tìm phƣơng thức giao dịch, mua, bán thích hợp đem lại cho đơn vị lợi ích lớn nhất.
Ngày nay thuật ngữ kinh doanh thƣơng mại đƣợc sử dụng rất rộng rãi dùng để chỉ hoạt động trung gian nối liền giữa sản xuất và tiêu dùng nhằm mục đích lợi nhuận. Hầu hết các nƣớc trên thế giới đều sử dụng khái niệm kinh doanh, còn tại Việt Nam khái niệm kinh doanh đƣợc sử dụng rộng rãi từ khi Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tại các nƣớc có hệ thống thông luật không có sự phân biệt giữa kinh doanh và dân sự. Nhƣng ở một số nƣớc theo truyền thống Châu Âu lục địa có Bộ luật Thƣơng mại riêng nhƣ Cộng hòa Liên bang Đức, Cộng hòa Pháp thì có sự phân biệt giữa thƣơng mại và dân sự.
Ở các nƣớc này kinh doanh đƣợc sử dụng phù hợp với thƣơng mại theo nghĩa rộng do Tổ chức Thƣơng mại Thế giới (WTO) hay Luật mẫu Uncitral về Trọng tài Thƣơng mại đƣa ra. Theo đó “Thƣơng mại” bao gồm tất cả các quan hệ giao dịch mang bản chất thƣơng mại nhƣ: cung cấp hàng hóa, dịch vụ, thỏa thuận về đại diện thƣơng mại, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa đơn, chứng từ, các dịch vụ tƣ vấn, đề án thiết kế, giấy phép đầu tƣ, giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, vận chuyển hàng hóa hay hành khách bằng đƣờng không, đƣờng biển, đƣờng sắt hay đƣờng bộ. Khái niệm thƣơng mại ngày càng đƣợc mở rộng ra với nội hàm rộng lớn, bao gồm tất cả các hoạt động nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Chẳng hạn nhƣ, Bộ luật Thƣơng mại số 48 của Nhật Bản ngày 9/3/1899, thuật ngữ thƣơng mại đƣợc dùng để chỉ những hoạt động mua bán nhằm mục đích lợi nhuận và hầu hết các dịch vụ trên thị trƣờng nhƣ dịch vụ vận tải, cung ứng điện hay khí đốt, uỷ thác, bảo hiểm, ngân hàng.
LTM của Philippin tuy không đƣa ra các hành vi thƣơng mại cụ thể mà quy định phạm vi điều chỉnh là các hoạt động nhằm thúc đẩy sự trao đổi hàng hoá và dịch vụ với mục đích thu lợi nhuận. Ngoài ra LTM của Philippin còn điều chỉnh các giao dịch thƣơng mại trong tất cả các lĩnh vực kể cả lĩnh vực vận chuyển hành khách. Bộ luật Thƣơng mại của Thái Lan cũng đƣa ra khái niệm thƣơng mại khá rộng không chỉ bao gồm việc mua bán hàng hoá mà cả các hoạt động thuê tài sản, thuê mua tài sản, tín dụng, thế chấp, đại diện, môi giới, bảo hiểm, công ty, hợp danh…[35] Tại Việt Nam, kinh doanh thƣơng mại đƣợc hình thành và phát triển trễ hơn do chiến tranh. Căn cứ vào quá trình cách mạng, có thể chia quá trình hình thành kinh doanh thƣơng mại ở Việt Nam thành ba giai đoạn nhƣ sau: Giai đoạn trước năm 1975: Trƣớc năm 1975, Việt Nam còn trong giai đoạn đất nƣớc bị chia cắt, chiến tranh diễn ra ở cả hai miền Bắc, Nam.
Nền kinh tế miền Bắc chịu sự chi phối, áp đặt của các quốc gia xâm lƣợc nhƣ Mỹ, Pháp. Đến khi Hiệp định Geneve đƣợc ký kết, nhà nƣớc ta tiến hành tiếp quản nền kinh tế miền Bắc, lúc này hoạt động kinh tế đƣợc nhà nƣớc ta quản lý, điều hành. Hoạt động kinh tế ở miền Bắc dƣới sự quản lý của nhà nƣớc hình thành nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp. Nhà nƣớc can thiệp sâu vào hoạt động kinh tế, quản lý và kiềm chế sự phát triển kinh tế thông qua việc hàng hóa đƣợc phân phối theo chế độ tem phiếu, hàng hóa không đƣợc mua bán tự do trên thị trƣờng, hàng hóa không đƣợc tự do trao đổi từ nơi này sang nơi khác.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngƣợc lại ở miền Nam, hoạt động kinh tế có nhiều khởi sắc dƣới sự quản lý của chính quyền Ngô Đình Diệm. Về nội thƣơng: hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa diễn ra sầm uất, hình thành nên một vài thƣơng xá lớn ở Sài Gòn nhƣ Tax, Tam Đa. Về ngoại thƣơng: chính quyền Sài Gòn thực hiện một số chính sách nhƣ không quốc hữu hóa, miễn các loại thuế trƣớc bạ, lợi tức, hải quan, cho tƣ bản tự do chuyển tiền, lợi tức về nƣớc từ một đến ba năm…nhằm kêu gọi tƣ bản nƣớc ngoài đầu tƣ vào Việt Nam. Nhìn chung, kinh tế miền Nam vẫn nằm trong kinh tế thời chiến phụ thuộc vào viện trợ, công nghiệp hƣớng nội, chƣa giải quyết đƣợc vấn đề năng lƣợng, thƣơng mại chủ yếu nhập khẩu và tiêu thụ hàng viện trợ.
Nhƣng kinh tế miền Nam phát triển hơn kinh tế miền Bắc nhờ có sự mở cửa giao thƣơng từ nƣớc ngoài nhƣng điều này chủ yếu mang lại lợi ích cho tƣ bản nƣớc ngoài. Do ảnh hƣởng của thị trƣờng tự do nên hoạt động thƣơng mại thuần túy đã hình thành ở miền Nam. Giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1986: Năm 1975, Việt Nam thống nhất đất nƣớc. Lúc này nhu cầu về tiêu dùng của các tầng lớp dân cƣ trong xã hội khác trƣớc.
Điều đó đòi hỏi hoạt động của thƣơng mại phải có sự thích ứng nhanh chóng với điều kiện mới của thị trƣờng, mở rộng kinh doanh với những phƣơng thức tiến bộ, hàng hoá phong phú với chất lƣợng bảo đảm. Nhu cầu giao lƣu hàng hoá giữa hai miền Nam - Bắc ngày càng tăng lên, do đó những hạn chế buôn bán ban đầu đã đƣợc Nhà nƣớc xoá bỏ dần. Nhƣng nền kinh tế vẫn hoạt động theo đƣờng lối quan liêu bao cấp dƣới sự quản lý của nhà nƣớc, thừa nhận nền kinh tế xã hội chủ nghĩa nhƣng không thừa nhận nền kinh tế thị trƣờng. Do đó, chƣa xuất hiện khái niệm kinh doanh, thƣơng mại.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ƣơng lần thứ 10 khoá V (6/1986) đã đánh giá tình hình sau cuộc điều chỉnh giá-lƣơng-tiền vào tháng 9/1985 và khẳng định chính thức đổi mới cơ chế quản lý, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12 năm 1986) đã chủ trƣơng: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là bƣớc khởi đầu thay đổi cơ cấu các chủ thể sản xuất kinh doanh, tạo tiền đề cơ bản cho sự phát triển kinh tế thị trƣờng. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn từ sau năm 1986 đến nay: Từ năm 1986, thị trƣờng hàng hoá, dịch vụ nƣớc ta có nhiều biến đổi và đạt đƣợc những thành tựu cơ bản sau: Bƣớc đầu đã xoá bỏ cơ chế lƣu thông cũ, chuyển sang cơ chế lƣu thông mới, khắc phục tình trạng “ngăn sông, cấm chợ”, hình thành thị trƣờng thống nhất khá ổn định và thông suốt trong cả nƣớc; Hàng hoá, dịch vụ ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại, nâng cao về chất lƣợng, đáp ứng đƣợc nhu cầu của ngƣời tiêu dùng; Kiềm chế đƣợc lạm phát, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức hợp lý đã tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội; Mạng lƣới kinh doanh thƣơng mại, dịch vụ tiếp tục đƣợc mở rộng trên cả ba địa bàn: thành thị, nông thôn và miền núi với sự tham gia của các chủ thể kinh doanh; Tổ chức và phƣơng thức kinh doanh, phƣơng thức mua bán ngày càng đổi mới, phong phú và linh hoạt hơn; Kết cấu hạ tầng thƣơng mại ngày càng phát triển theo hƣớng văn minh, hiện đại; Các hình thức trung tâm thƣơng mại, siêu thị và cửa hàng tự phục vụ, hội chợ - triển lãm thƣơng mại, trung tâm giao dịch hàng hoá… đang hình thành và phát triển ở khu vực thành thị, các vùng kinh tế trọng yếu; Đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham gia thị trƣờng, khuyến khích sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh; Quản lý nhà nƣớc về thƣơng mại có sự đổi mới từ trung ƣơng đến địa phƣơng cả về tƣ duy, nội dung và phƣơng pháp quản lý, môi trƣờng pháp lý cho lƣu thông hàng hoá, hoạt động của thƣơng nhân.
Để quản lý hoạt động kinh tế, nhà nƣớc ta đã xây dựng hệ thống pháp luật về doanh nghiệp và thuật ngữ “Kinh tế” xuất hiện lần đầu trong Pháp lệnh Hợp đồng Kinh tế năm 1989. Năm 1990, Quốc Hội ban hành hai đạo luật là “LCT” và “LDNTN”. Hai luật này đã đƣa ra một khái niệm mới trong khoa học pháp lý Việt Nam có liên quan nhiều đến việc áp dụng pháp luật thƣơng mại, đó là khái niệm “kinh doanh”. Theo khoản 1 điều 3 LCT 1990 và điều 2 LDNTN 1990 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
LDN năm 2000 và LDN năm 2005 cũng đề cập đến khái niệm kinh doanh và không có khác biệt so với khái niệm kinh doanh trong các đạo luật trƣớc. Theo khoản 2 điều 3 LDN 2000 và khoản 2 điều 4 LDN 2005 thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.