CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỎA THUẬN TRONG THI HÀNH ÁN DÂN SỰ 1. Chế định thỏa thuận trong thi hành án dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận trong thi hành án dân sự. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thỏa thuận “Thỏa thuận” là một trong những hành vi phổ biến nhất trong đời sống dân sự, đặc biệt là trong trường hợp phát sinh các giao dịch nhiều bên.
Thỏa thuận được xem như một phương thức được các bên cùng nhau thực hiện để thống nhất với ý chí nhằm tìm ra điểm chung nhất về mục đích của các bên khi thực hiện thỏa thuận. Cho đến nay, chưa có bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào định nghĩa chính thức về thuật ngữ thỏa thuận. Khái niệm về thỏa thuận thường được gắn với thuật ngữ khác là hợp đồng. Theo đó Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 diễn giải: “Hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Theo định nghĩa trên, thỏa thuận được xem như một hành vi thực tế và được dùng làm cơ sở để giải thích cho thuật ngữ hợp đồng. Thế nhưng bản thân thuật ngữ thỏa thuận lại được được giải thích một cách cụ thể để người đọc có thể hiểu được thỏa thuận là hành vi gì và được thực hiện như thế nào. [30;39] Có thể dễ dàng nhận thấy, hành vi thỏa thuận có thể được thực hiện bởi bất kỳ ai và luôn được thực hiện một cách dễ dàng khi một chủ thể có khả năng biểu đạt ý chí ra bên ngoài thông qua việc hành động hoặc không hành động để bên cùng lại cũng biểu đạt tương tự mong muốn của mình theo cách hiểu chung. Đây 9 chính là đặc trưng của các quan hệ dân sự, những quan hệ mà được phát sinh, duy trì hay chấm dứt dựa vào sự thỏa thuận của các bên.
Sự thỏa thuận cũng giống như khái niệm hợp đồng được lý giải ở trên, khi thực hiện hành vi này, một số hệ quả pháp lý nhất định cũng được gắn liền với quan hệ pháp luật giữa các bên và tác động trực tiếp đến quyền và lợi ích của các bên khi tiến hành thỏa thuận. Cụ thể hơn, đối với mỗi hành vi thỏa thuận, mục đích được thống nhất cuối cùng giữa các bên tham gia thỏa thuận chính là sự ràng buộc khiến các bên bắt buộc phải tuân thủ thực hiện và dựa vào đó, các quyền, nghĩa vụ cũng như quan hệ pháp lý của các bên có thể phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt. Với sự phổ biến và đặc trưng của mình, thỏa thuận dần dần chuyển từ một hành vi thực tế trở thành một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của pháp luật dân sự và là hành vi cơ bản nhất không thể thiếu trong các quan hệ dân sự. Đây là chính yếu tố điều hướng và dẫn dắt xã hội dân sự được vận hành và phát triển theo đúng quy luật tự nhiên khi sự vận hành này được phát sinh và duy trì bởi chính các chủ thể cũng như ý chí của họ trong môi trường xã hội tự nhiên mà không phải chịu bất cứ tác động bên ngoài nào.[22] Như vậy, có thể nhận thấy, thỏa thuận là một trong những hành vi cơ bản của con người khi tham gia vào xã hội dân sự và hiểu được khái niệm thỏa thuận là một lợi thế khi tiến hành các giao dịch.
Theo quan điểm của tác giả, một khái niệm về thỏa thuận có thể được định nghĩa rằng: “Thỏa thuận là quá trình các bên thể hiện ra bên ngoài ý chí của mình nhằm tìm kiếm để đạt được ý chí, mục đích chung thống nhất của các bên. Việc thống nhất ý chí chung này sẽ tạo nên sự ràng buộc bắt buộc các bên phải tuân thủ và thực hiện trong mọi trường hợp phát sinh, thay đổi hay chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật.” 10 Với vai trò và đặc trưng của mình, sự thỏa thuận có thể nói đã xác định và đánh dấu được riêng cho mình vị trí không thể thay thế trong đời sống xã hội nói chung và trong các giao dịch dân sự nói riêng. Do đó, để có được vị trí như trên, sự thỏa thuận phải mang trong mình những đặc điểm riêng nổi bật để thể hiện rõ được nội hàm cũng như hình thức của thỏa thuận.[21] Thứ nhất, thỏa thuật phải dựa trên ý chí của các bên. Như đã phân tích, thỏa thuận là hành vi được thực hiện bởi nhiều bên và là một quá trình thể hiện ý chí của các bên nhằm đạt được ý chí chung thống nhất.
Như vậy, để có thể đi đến kết quả của việc thỏa thuận, ý chí của các bên là một nội dung và yếu tố tối thiểu, không thể thiếu khi tiến hành thỏa thuận. Ý chí của các bên chính là những điều mà các bên mong muốn đạt được khi thực hiện một hành vi nào đó cùng với nhau. Và việc đưa ra ý chí này là sự tự nguyện của các bên và cũng chính là mục đích mà các bên hướng tới, tìm kiếm và mong muốn đạt được. Thứ hai, mục đích của thỏa thuận chính là thống nhất được ý chí của các bên.
Khi tiến hành thỏa thuận, mỗi bên luôn mang trong mình ý chí riêng và mong muốn riêng, nhưng thỏa thuận là việc hai bên cùng phải làm nên mỗi bên cần thể hiện ra bên ngoài ý chí của mình để xem ý chí của đối phương là gì, ý chí của các bên có giống nhau không hay đang khác biệt như thế nào. Nếu như ý chí của các bên khác nhau, các bên sẽ xem xét tìm ra một mục đích chung nhất thỏa mãn ý chí của các bên và đi đến thống nhất ý chí chung đó. Thứ ba, hệ quả của thỏa thuận là làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên. Hành vi thỏa thuận được thực hiện bởi các bên chủ thể có chung mục đích trong các quan hệ pháp luật dân sự, mà trong mỗi quan hệ pháp luật đó luôn tồn tại các quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia.
Do đó, khi các bên thực hiện việc thỏa thuận, nội dung thỏa thuận sau khi được xác định sẽ tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ các của bên, thông thường, kết quả của việc thỏa thuận sẽ làm phát sinh tạo nên một quan hệ pháp luật với các 11 quyền và nghĩa vụ mới; hoặc thay đổi khiến cho các quyền và nghĩa vụ của các bên trong các quan hệ pháp luật vốn có sẽ không còn như trước nữa; hoặc chấm dứt luôn các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ pháp luật liên quan đến nội dung thỏa thuận. Thứ tư, giá trị pháp lý của sự thỏa thuận đó là tình ràng buộc, buộc các bên phải tuân thủ thực hiện. Việc thỏa thuận được thực hiện dựa trên ý chí của các bên, trong khi đó ý chí này là tự nguyên và sự tự nguyện sẽ dẫn tới việc các bên đã hiểu và nắm rõ về ý chí cũng như hành vi của mình, dẫn tới việc các bên phải tự chịu trách nhiệm với những gì mình thực hiện. Trong khi đó, khi thỏa thuận, kết quả mang lại chính là mục đích và ý chí chung của các bên hướng tới và ý chí chung này đã được thống nhất thực hiện, do đó, ý chí chung này cần được duy trì liên tục sau khi thỏa thuận.
Điều này đồng nghĩa với việc khi các bên thỏa thuận tạo lập nên ý chí chung thì phải có trách nhiệm tuân thủ để duy trì sự tồn tại của ý chí chung này.[35] Khi đã là một yếu tố căn bản và không thể thiếu trong các quan hệ pháp luật dân sự, sự thỏa thuận đã khẳng định được vai trò rất lớn từ sự tồn tại của mình. Đối với mỗi cá nhân, sự thỏa thuận chính là quyền tự quyết của con người đối với các hành vi, mục đích mà mình hướng tới, đồng thời cũng chính là khuôn khổ mà các chủ thể phải có nghĩa vụ tuân theo trong quan hệ pháp luật liên quan đến nội dung thỏa thuận. Đối với hệ thống pháp luật, sự thỏa đã thể hiện được vai trò điều tiết cũng như bảo hệ các quyền dân sự mà pháp luật xác định, điều này đảm bảo pháp luật vẫn có thể điều chỉnh được các quan hệ pháp luật dân sự nhưng cũng để cho các bên có quyền tự quyết và không can thiệp quá sâu và sự hình thành và phát triển của các quan hệ dân sự. 12 Đặc biệt, đối với lĩnh vực kinh tế - xã hội, khi sự thỏa thuận được phép tồn tại, con người được tự do tạo dựng và đưa ra ý chí của mình, những nhóm ý chí chung sẽ hành thành những khu vực hoặc lĩnh vực có cùng chung chung tiêu chí, cùng chung mục đích và cùng đồng hành đến sự phát triển.
Điều này tạo nên sự đa dạng trong phát triển của văn hóa xã hội cũng như đa dạng trong kinh tế. Sự phát triển đa dạng này vẫn dựa trên những nguyên tắc cơ bản của ý chí con người và những giới hạn chung mà con người đặt ra. Khái niệm và đặc điểm của thỏa thuận trong thi hành án dân sự Cho đến nay, ở Việt Nam các hoạt động Thi hành án dân sự mặc dù đã trở thành một trong những hoạt động pháp lý cơ bản và quan trọng nhưng cho đến nay việc áp dụng các nội dung pháp luật về thỏa thuận thi hành án trên cả thực tiễn lẫn trong khoa học pháp lý vẫn còn chưa được quy định cụ thể và chi tiết. Dưới góc nhìn tố tụng dân sự, theo Khoản 2 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thỏa thuận là sự tự nguyện của các bên đương sự nhằm đưa ra quyết định về việc thực hiện một hành vi nhất định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mình mà không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái với đạo đức xã hội.
Đây có thể được xem là một đặc trưng riêng của pháp luật dân sự khi coi hành vi thỏa thuận là hành vi tối thiểu và không thể thiếu trong các quan hệ dân sự, điều này khác biệt hoàn toàn với các quan hệ pháp luật hành chính hay quan hệ pháp luật hình sự. Dưới góc nhìn thi hành án dân sự, thỏa thuận được coi là một quyền của các đương sự trong quá trình thi hành án.