Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nguyên tắc thực hiện chế độ hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) là nguyên tắc nền tảng trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ, nhằm bảo đảm tính khách quan và đúng đắn khi giải quyết các vụ việc dân sự. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy không ít bản án, quyết định dù đã qua hai cấp xét xử và phát sinh hiệu lực pháp luật vẫn xuất hiện sai sót nghiêm trọng do việc đánh giá chứng cứ chưa đúng bản chất hoặc áp dụng sai quy phạm pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, trật tự quản lý công cộng và lợi ích của Nhà nước. Trước yêu cầu khắc phục oan sai và hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp, thủ tục giám đốc thẩm được thiết lập như một trình tự xét lại đặc biệt. Dẫu vậy, sự gia tăng nhanh chóng của các đơn thư khiếu nại, đề nghị giám đốc thẩm đã tạo áp lực lớn, dẫn đến tình trạng quá tải hồ sơ và kéo dài thời gian giải quyết tại các Tòa án có thẩm quyền, đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện cả về kỹ thuật lập pháp lẫn quy trình nghiệp vụ thi hành.

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả xác định mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam qua tiến trình lịch sử; phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng vào việc giải quyết đơn đề nghị tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; từ đó chỉ ra những vướng mắc, hạn chế để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét xử giám đốc thẩm.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu (gồm 04 nhiệm vụ được đánh số theo văn bản):
    1. Làm rõ các vấn đề lý luận về thủ tục giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự Việt Nam qua tiến trình lịch sử, nghiên cứu đặc điểm của giám đốc thẩm phân định với hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
    2. Phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật vào việc giải quyết đơn đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
    3. Nghiên cứu thực tiễn xét xử của các Tòa án, những vướng mắc, hạn chế Tòa án gặp phải.
    4. Đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng xét xử của Tòa án trong công tác giám đốc thẩm dân sự.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn rõ ràng:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam; các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả công tác xét xử giám đốc thẩm các vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; và các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung xem xét lại các vụ án dân sự theo nghĩa hẹp, không bao gồm việc giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình.
    • Về không gian và chủ thể khảo sát: Giới hạn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, kết quả giải quyết và những vướng mắc phát sinh trực tiếp tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
    • Về thời gian: Khảo sát các số liệu và thực tiễn thi hành trong phạm vi vài năm trở lại đây tính đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các quan điểm học thuật pháp lý nền tảng và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định:

  • Khung lý thuyết và quan điểm khoa học: Công trình tiếp cận bản chất của giám đốc thẩm dưới các góc độ lý luận tư pháp (nguyên tắc hai cấp xét xử, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, thẩm quyền xét xử của hệ thống Tòa án theo mô hình thẩm quyền tư pháp). Tác giả phân tích nguồn gốc thuật ngữ (tiếng Pháp "cassation" mang nghĩa phá án/hủy bỏ; từ điển Hán - Việt: "giám đốc" là xem xét, sai khiến; "thẩm" là khảo xét kỹ càng, xử đoán). Đồng thời, đề tài tổng hợp ba quan điểm pháp lý điển hình: quan điểm trong Giáo trình Luật Tố tụng dân sự của Trường Đại học Luật Hà Nội; quan điểm của Đào Xuân Tiến (2009) về tính chất thủ tục đặc biệt kiểm tra tính đúng đắn; và quan điểm của Khuất Văn Nga (2003) gắn liền với căn cứ vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Ngoài ra, khóa luận tiếp thu các kết quả nghiên cứu của Phan Thị Thanh Mai, Mai Ngọc Dưỡng, Hà Hoàng Hiệp, Thái Văn Đoàn, Thạch Phước Bình.
  • Căn cứ văn bản pháp luật sử dụng:
    • Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 2013.
    • Sắc lệnh số 13/SL ngày 24/01/1946; Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, 1981, 2014 và Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi năm 2024.
    • Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989.
    • Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
    • Các Nghị quyết của Đảng liên quan đến cải cách tư pháp (Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị).
  • Phương pháp nghiên cứu thực tế:
    • Phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải: Áp dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài để làm sáng tỏ các khái niệm, quy định pháp luật và lập luận đề xuất giải pháp.
    • Phương pháp chứng minh: Sử dụng các dẫn chứng quy định pháp luật, số liệu thực tiễn và quyết định giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội để củng cố luận cứ.
    • Phương pháp tổng hợp: Rút ra các kết luận, đánh giá pháp lý sau từng đề mục nghiên cứu.
    • Phương pháp đối chiếu so sánh, thống kê và phương pháp lịch sử: So sánh các quy định qua các thời kỳ lịch sử và tổng hợp tình hình thụ lý, giải quyết án.
  • Nguồn dữ liệu: Các văn bản pháp luật thực định; báo cáo chuyên đề và số liệu giải quyết đơn thư tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và các bài viết trên Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, Tạp chí Kiểm sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất lý luận, đặc điểm nhận diện, ý nghĩa xã hội - pháp lý, các cơ sở hình thành và lịch sử lập pháp của chế định giám đốc thẩm trong tố tụng dân sự:

  • Khái niệm và 05 đặc điểm đặc thù: Tác giả định nghĩa giám đốc thẩm dân sự là một thủ tục tố tụng đặc biệt được tiến hành trên cơ sở kháng nghị của người có thẩm quyền nhằm xét lại bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện có sai lầm của Tòa án trong nhận định tình tiết hoặc có vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Năm đặc điểm được phân tích gồm:
    1. Tính chất: Là hoạt động "xét" lại bản án, quyết định có hiệu lực chứ không "xử" lại nội dung vụ án (không phải là cấp xét xử thứ ba).
    2. Đối tượng: Các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật nghiêm trọng (phân biệt với sơ thẩm, phúc thẩm và tái thẩm).
    3. Điều kiện tiến hành: Chỉ được khởi động khi có kháng nghị của chủ thể có thẩm quyền (đơn của đương sự chỉ là nguồn tin tham khảo, không làm phát sinh thủ tục đương nhiên).
    4. Căn cứ phát sinh: Chỉ xảy ra khi có vi phạm pháp luật nghiêm trọng về thủ tục tố tụng hoặc áp dụng pháp luật nội dung.
    5. Chủ thể có thẩm quyền xét xử: Tập trung ở Tòa án nhân dân tối cao và Tòa án nhân dân cấp cao.
  • Ý nghĩa và cơ sở quy định: Thủ tục giám đốc thẩm đóng vai trò bảo đảm tính đúng đắn của phán quyết tư pháp; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự theo tinh thần Hiến pháp 2013; bảo đảm tính thống nhất trong giải thích và áp dụng pháp luật; đồng thời tạo cơ chế để Tòa án cấp trên kiểm tra, rút kinh nghiệm cho Tòa án cấp dưới.
  • Tiến trình lịch sử lập pháp: Được hệ thống hóa qua 03 giai đoạn phát triển chính:
Giai đoạn lịch sử Văn bản điều chỉnh tiêu biểu Đặc điểm thẩm quyền và phạm vi giám đốc thẩm
1945 - 1989 Sắc lệnh 13/SL (1946), Hiến pháp 1959, Luật Tổ chức TAND 1960, Thông tư 06/TC (1964), Hiến pháp 1980, Luật Tổ chức TAND 1981. Ban đầu quy định manh nha trong hình sự; đến Hiến pháp 1959 và Luật 1960 thẩm quyền tập trung ở TANDTC. Luật năm 1981 lần đầu sử dụng thuật ngữ "giám đốc thẩm" và mở rộng thẩm quyền cho TAND cấp tỉnh.
1989 - 2004 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989). Lần đầu tiên dành trọn một chương điều chỉnh tương đối chi tiết về căn cứ kháng nghị, thẩm quyền, thời hạn và quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm.
2004 đến nay BLTTDS 2004, Luật sửa đổi BLTTDS 2011, BLTTDS 2015, Luật Tổ chức TAND 2014. Pháp điển hóa toàn diện tại Bộ luật; tách bạch thời hạn yêu cầu và thời hạn kháng nghị; Luật Tổ chức TAND 2014 cơ cấu lại hệ thống Tòa án 4 cấp, chuyển thẩm quyền giám đốc thẩm về TANDTC và TAND cấp cao; BLTTDS 2015 bổ sung quyền sửa án của Hội đồng giám đốc thẩm.

Chương 2: Quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về giám đốc thẩm

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy phạm của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chi phối trình tự giám đốc thẩm:

  • Kháng nghị giám đốc thẩm:
    • Thẩm quyền kháng nghị (Điều 331): Phân cấp giữa Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC và Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao.
    • Đối tượng kháng nghị: Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo/kháng nghị; quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự; bản án, quyết định phúc thẩm; quyết định giám đốc thẩm/tái thẩm của Tòa án (ngoại trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC).
    • Căn cứ kháng nghị: Kết luận trong bản án không phù hợp với tình tiết khách quan; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong áp dụng pháp luật.
  • Chuẩn bị xét xử giám đốc thẩm (Điều 330): Quy định quyền yêu cầu bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc tự mình xác minh của người có thẩm quyền kháng nghị; điểm mới tiến bộ cho phép đương sự giao nộp chứng cứ chưa thể nộp ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm vì lý do chính đáng.
  • Xét xử giám đốc thẩm:
    • Thẩm quyền xét xử (Điều 337): Ủy ban Thẩm phán TAND cấp cao (Hội đồng 03 Thẩm phán hoặc toàn thể) xét xử bản án, quyết định của TAND cấp tỉnh, cấp huyện; Hội đồng Thẩm phán TANDTC (Hội đồng 05 Thẩm phán hoặc toàn thể) xét xử bản án, quyết định của TAND cấp cao.
    • Thành phần tham gia (Điều 338, 341): Đại diện Viện kiểm sát cùng cấp bắt buộc tham gia; đương sự chỉ tham gia khi Tòa án triệu tập.
    • Phạm vi giám đốc thẩm (Điều 342): Xem xét phần quyết định bị kháng nghị; mở rộng xem xét phần không bị kháng nghị nếu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, lợi ích của người thứ ba.
    • Quyền hạn của Hội đồng xét xử (Điều 343 - 347): Gồm 05 quyền hạn luật định: (i) Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án; (ii) Hủy bản án và giữ nguyên bản án đúng pháp luật của cấp dưới; (iii) Hủy một phần hoặc toàn bộ để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại; (iv) Hủy bản án và đình chỉ giải quyết vụ án; (v) Sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định (kèm điều kiện tài liệu đầy đủ và không làm ảnh hưởng quyền của chủ thể khác).
  • Quyết định giám đốc thẩm (Điều 348 - 350): Quy định các nội dung bắt buộc của văn bản; hiệu lực pháp luật phát sinh ngay từ ngày ban hành; thời hạn gửi quyết định trong 05 ngày làm việc.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và kiến nghị

Chương 3 khảo sát thực tế áp dụng tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và đưa ra các đề xuất cụ thể:

  • Thực tiễn thi hành và Quy trình 05 bước giải quyết văn bản đề nghị:
    • Bước 1: Nhận, xử lý đơn đề nghị giám đốc thẩm tại bộ phận văn thư/tiếp nhận.
    • Bước 2: Thụ lý đơn đề nghị và phân công Thẩm tra viên nghiên cứu hồ sơ vụ việc.
    • Bước 3: Chuyển hồ sơ cho Tòa chuyên trách hoặc lãnh đạo Tòa án xem xét.
    • Bước 4: Nghiên cứu chi tiết hồ sơ văn bản đề nghị giám đốc thẩm, lập tờ trình báo cáo.
    • Bước 5: Phân công Thẩm phán giải quyết văn bản đề nghị và ra quyết định xử lý (kháng nghị hoặc thông báo không có căn cứ kháng nghị).
  • Những vướng mắc, hạn chế thực tiễn:
    • Bất cập về thời hạn đề nghị giám đốc thẩm (quy định về thời hiệu còn thiếu linh hoạt khi phát sinh vi phạm muộn).
    • Khó khăn trong thủ tục nhận đơn đề nghị (tình trạng đơn gửi trùng lặp, thiếu căn cứ hoặc gửi vượt cấp gây quá tải).
    • Áp lực đối với thời hạn mở phiên tòa giám đốc thẩm (thời hạn 04 tháng khó bảo đảm do khối lượng hồ sơ luân chuyển và xác minh lớn).
    • Vướng mắc trong việc nhận diện và thống nhất áp dụng các "căn cứ kháng nghị" giữa các cơ quan tiến hành tố tụng.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện:
    • Về lập pháp: Sửa đổi quy định về quyền đề nghị theo thủ tục giám đốc thẩm; chuẩn hóa và làm rõ tiêu chí xác định các căn cứ kháng nghị; phân định rành mạch phạm vi giám đốc thẩm nhằm bảo đảm nguyên tắc tự định đoạt của đương sự.
    • Về tổ chức bộ máy và cán bộ: Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ Thẩm phán, Thẩm tra viên tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội; phân bổ lại định mức thụ lý án.
    • Về ứng dụng công nghệ: Đẩy mạnh chuyển đổi số, áp dụng công nghệ số vào việc quản lý hồ sơ, thụ lý đơn trực tuyến và giám sát tiến độ giải quyết đơn đề nghị tại Tòa án.

Kết quả và đóng góp

Công trình của tác giả ghi nhận những kết quả nghiên cứu và đóng góp học thuật - thực tiễn sau:

  • Kết quả chính về mặt khoa học pháp lý:
    • Phân định rõ ràng bản chất tố tụng của giám đốc thẩm là thủ tục xem xét lại tính hợp pháp của bản án chứ không phải cấp xét xử thứ ba, giúp giải tỏa những nhầm lẫn trong nhận thức của người tham gia tố tụng.
    • Khái quát có hệ thống các giai đoạn phát triển lập pháp từ năm 1945 đến nay, chỉ ra sự chuyển biến từ mô hình tổ chức xét xử theo cấp hành chính sang mô hình thẩm quyền tư pháp độc lập theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014.
    • Mô tả minh bạch quy trình nghiệp vụ nội bộ 05 bước giải quyết đơn đề nghị giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
    • Nhận diện 04 nhóm rào cản thực tiễn: thời hạn đề nghị, thủ tục tiếp nhận đơn, thời hạn mở phiên tòa và tiêu chí xác định căn cứ kháng nghị.
  • Các giải pháp và kiến nghị đề xuất: Hệ thống hóa 03 nhóm giải pháp trọng tâm: hoàn thiện các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng cán bộ Thẩm phán - Thẩm tra viên; và đẩy mạnh triển khai ứng dụng công nghệ số trong quản lý án tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
  • Đóng góp so với nghiên cứu trước: Khóa luận đi sâu vào đối tượng vụ án dân sự theo nghĩa hẹp tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội – một thiết chế tư pháp mới vận hành từ sau cải cách theo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014; đồng thời cập nhật các định hướng lập pháp mới nhất thông qua việc phân tích Dự thảo Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi năm 2024.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận thẳng thắn xác định các giới hạn nghiên cứu xuất phát từ phạm vi đề tài:

  • Hạn chế của công trình:
    • Về đối tượng: Đề tài chỉ tập trung vào các vụ án dân sự theo nghĩa hẹp, chưa bao quát việc giải quyết giám đốc thẩm trong các vụ án tranh chấp về kinh doanh, thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình.
    • Về địa bàn khảo sát: Thực tiễn thực hiện và các đánh giá hạn chế chỉ phản ánh hoạt động tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, chưa đối chiếu số liệu và thực trạng với hai Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng và Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Hướng nghiên cứu mở rộng:
    • Tiếp tục mở rộng khảo sát thủ tục giám đốc thẩm đối với các loại án chuyên biệt khác như lao động, hôn nhân gia đình và kinh doanh thương mại.
    • Nghiên cứu so sánh thực tiễn thi hành giám đốc thẩm giữa ba Tòa án nhân dân cấp cao trên phạm vi toàn quốc.
    • Đánh giá tác động toàn diện của mô hình tổ chức Tòa án phúc thẩm, sơ thẩm chuyên biệt khi Luật Tổ chức Tòa án nhân dân sửa đổi năm 2024 chính thức được thông qua và thi hành.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng thực tiễn cụ thể:

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên chuyên ngành Luật, học viên cao học, nghiên cứu sinh nghiên cứu về Luật Tố tụng dân sự và Khoa học Tư pháp; Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án và những người làm công tác nghiên cứu tại các Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.
  • Các nội dung đáng tham khảo nhất:
    • Hệ thống luận điểm phân biệt giám đốc thẩm với thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và tái thẩm tại Chương 1.
    • Bảng tổng hợp lịch sử lập pháp tố tụng dân sự Việt Nam về giám đốc thẩm qua 03 giai đoạn (1945 - nay).
    • Phân tích chi tiết 05 quyền hạn của Hội đồng xét xử giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 343 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (đặc biệt là quyền sửa án mới được bổ sung).
    • Bản mô tả quy trình 05 bước xử lý văn bản đề nghị giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao thủ tục giám đốc thẩm không được coi là cấp xét xử thứ ba trong tố tụng dân sự Việt Nam?
Trả lời: Theo phân tích của tác giả tại Chương 1, pháp luật Việt Nam triệt để tuân thủ nguyên tắc hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm). Giám đốc thẩm chỉ là một thủ tục tố tụng đặc biệt nhằm "xét" lại tính hợp pháp và có căn cứ của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm nghiêm trọng, chứ không trực tiếp "xử" lại nội dung quan hệ tranh chấp giữa các bên đương sự.

2. Sự khác biệt căn bản giữa căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm trong tố tụng dân sự là gì?
Trả lời: Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm phát sinh từ việc phát hiện Tòa án cấp dưới có sai lầm, vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong áp dụng luật nội dung, thủ tục tố tụng hoặc đánh giá chứng cứ khách quan. Ngược lại, căn cứ tái thẩm phát sinh khi xuất hiện tình tiết mới khách quan làm thay đổi hoàn toàn nội dung vụ án mà Tòa án và các bên không thể biết được trong quá trình xét xử trước đó.

3. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm được quyền sửa một phần hoặc toàn bộ bản án đã có hiệu lực trong những điều kiện nào?
Trả lời: Theo quy định tại Điều 343 và phân tích tại Chương 2, Hội đồng xét xử giám đốc thẩm chỉ được sửa bản án khi đáp ứng đủ hai điều kiện: tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng để làm sáng tỏ các tình tiết; và việc sửa bản án không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.

4. Đương sự trong vụ án dân sự có quyền kháng cáo theo thủ tục giám đốc thẩm hay không?
Trả lời: Không. Đương sự và người liên quan không có quyền kháng cáo giám đốc thẩm mà chỉ có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc làm đơn đề nghị người có thẩm quyền (Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Chánh án TAND cấp cao, Viện trưởng VKSND cấp cao) xem xét kháng nghị. Đơn đề nghị của đương sự chỉ là nguồn thông tin để người có thẩm quyền xem xét.

5. Quy trình giải quyết văn bản đề nghị giám đốc thẩm tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội gồm những bước nào?
Trả lời: Văn bản đề nghị được giải quyết qua quy trình 05 bước: (1) Nhận, xử lý đơn đề nghị; (2) Thụ lý đơn đề nghị và phân công Thẩm tra viên nghiên cứu hồ sơ; (3) Chuyển hồ sơ; (4) Nghiên cứu hồ sơ văn bản đề nghị; và (5) Phân công Thẩm phán giải quyết văn bản đề nghị giám đốc thẩm.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lương Thị Phi Yến đã giải quyết một cách toàn diện các vấn đề lý luận về chế định giám đốc thẩm trong mối tương quan với nguyên tắc hai cấp xét xử và mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khảo sát quy trình 05 bước giải quyết thực tế tại Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, đề tài đã chỉ rõ những rào cản về thời hạn, căn cứ kháng nghị và áp lực quá tải hồ sơ. Các đề xuất hoàn thiện kỹ thuật lập pháp, kiện toàn năng lực đội ngũ cán bộ Tòa án và ứng dụng công nghệ số được xây dựng bám sát thực tiễn, có giá trị đóng góp tích cực cho công tác nghiên cứu và hoạt động tư pháp hiện nay.