Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Chế định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là thủ tục tố tụng chấm dứt quá trình giải quyết vụ án khi xuất hiện căn cứ do luật định sau khi Tòa án đã thụ lý. Nếu Tòa án ra quyết định đình chỉ đúng quy định sẽ giải phóng các bên đương sự—đặc biệt là bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan—khỏi nghĩa vụ tham gia tố tụng vốn mang tính bắt buộc; ngược lại, nếu đình chỉ sai sẽ tước đoạt quyền tiếp cận công lý và quyền khởi kiện hợp pháp của công dân. Trải qua lịch sử lập pháp từ các Sắc lệnh, Thông tư, Pháp lệnh đến Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và BLTTDS năm 2015, các quy định này đã từng bước được pháp điển hóa.

Tuy nhiên, thực tiễn thi hành BLTTDS năm 2015 phát sinh nhiều vướng mắc: quy định tại điểm b khoản 2 Điều 217 chỉ xác định là "đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện" thay vì "đình chỉ giải quyết vụ án"; quyền khởi kiện lại chưa được làm rõ trong quyết định đình chỉ; cách thức xử lý tiền tạm ứng án phí tại khoản 3 Điều 218; cách tính thời hạn chuẩn bị xét xử khi thay đổi tư cách đương sự; cũng như quyền phản tố của bị đơn khi được chuyển đổi từ nguyên đơn do rút toàn bộ yêu cầu. Nhằm giải quyết các vấn đề trên trên cơ sở thực tiễn công tác xét xử sơ thẩm, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài khóa luận tại Tòa án nhân dân (TAND) quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là làm rõ một số vấn đề lý luận, phân tích thực trạng pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm, khảo sát thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân, chỉ ra các hạn chế, bất cập và đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật cũng như bảo đảm thực hiện.

Để hiện thực hóa mục tiêu trên, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm (khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa và cơ sở xây dựng quy định pháp luật).
  2. Phân tích thực trạng pháp luật, đánh giá những điểm mới và hạn chế của BLTTDS hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm.
  3. Khảo sát, đánh giá thực tiễn thực hiện các quy định tại TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội; phát hiện khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tương ứng nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm; thực trạng quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành; thực tiễn thực hiện tại TAND quận Thanh Xuân và hệ thống giải pháp, kiến nghị.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung pháp luật: Tập trung vào thủ tục đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015; không nghiên cứu thủ tục tại cấp phúc thẩm và không nghiên cứu đình chỉ giải quyết việc dân sự.
    • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội từ ngày 05/06/2023 đến thời điểm hoàn thành khóa luận (năm 2024).

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được triển khai trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, cùng các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và cải cách tư pháp.

Khung pháp lý và hệ thống văn bản áp dụng trong nghiên cứu bao gồm:

  • Các đạo luật cơ bản: BLTTDS năm 2015 (trọng tâm), BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, Luật Doanh nghiệp năm 2020, Luật Phá sản năm 2014, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  • Các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ: Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP (ban hành biểu mẫu số 45-DS, 46-DS), Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Văn bản giải đáp số 01/2017/GĐ-TANDTC, Giải đáp số 01/2018/GĐ-TAND, Công văn số 64/TANDTC-PC của TAND tối cao; Quyết định số 399/QĐ-VKSTC của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) tối cao.
  • Nguồn kế thừa học thuật: Kế thừa có chọn lọc các bài viết trên tạp chí chuyên ngành của Trần Anh Tuấn, Nguyễn Triều Dương, Nguyễn Xuân Bình, Nguyễn Thị Thu Hiền, Nguyễn Văn Dũng, Dương Tấn Thanh; các luận văn thạc sĩ của Trần Thị Ngọc Trang, Tạ Thị Thuỳ Linh, Đinh Kim Dung, Nguyễn Thị Linh, Hứa Thị Thanh Xuyên.

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành được áp dụng gồm:

  • Phương pháp phân tích: Áp dụng xuyên suốt toàn bộ đề tài nhằm mổ xẻ nội dung các quy phạm pháp luật tố tụng dân sự điều chỉnh việc đình chỉ giải quyết vụ án.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Thực hiện so sánh các quy định của BLTTDS năm 2015 với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011); đối chiếu các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ giữa ngành Tòa án và ngành Kiểm sát.
  • Phương pháp tổng hợp: Tổng hợp số liệu vụ việc thực tế, các vướng mắc áp dụng tại địa bàn khảo sát để rút ra các kết luận khoa học và luận chứng cho các kiến nghị.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ giải đáp nghiệp vụ của TAND tối cao và VKSND tối cao; dữ liệu tổ chức bộ máy và hoạt động thụ lý của TAND quận Thanh Xuân; dữ liệu dân số và mật độ dân cư quận Thanh Xuân tính đến năm 2024.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Tác giả đưa ra khái niệm hoàn chỉnh: Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm là hoạt động tố tụng ở cấp sơ thẩm của Tòa án nhằm quyết định ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý theo trình tự, thủ tục nhất định khi phát hiện một trong những căn cứ do pháp luật quy định.

Chương này làm rõ 04 đặc điểm bản chất:

  1. Ngừng hẳn các hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết vụ án cụ thể, chấm dứt cả về mặt thủ tục lẫn giải quyết nội dung. Đặc điểm này phân biệt với chế định tạm đình chỉ (ngừng tạm thời có thời hạn) và đình chỉ giải quyết yêu cầu của đương sự (chỉ đình chỉ một phần vụ án).
  2. Chỉ được tiến hành khi xuất hiện các căn cứ luật định: Nhà lập pháp dự liệu 08 căn cứ hạn định; Tòa án không được tùy tiện ban hành quyết định.
  3. Chủ thể có thẩm quyền phân định theo từng giai đoạn: Trước khi mở phiên tòa thuộc thẩm quyền của Thẩm phán; tại phiên tòa thuộc thẩm quyền của Hội đồng xét xử (HĐXX).
  4. Hậu quả pháp lý: Chấm dứt mọi hoạt động tố tụng, Tòa án xóa sổ thụ lý và về nguyên tắc đương sự không có quyền khởi kiện lại, trừ các trường hợp ngoại lệ theo luật định.

Về mặt ý nghĩa, chế định này giúp Tòa án khắc phục sai lầm từ giai đoạn thụ lý; bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự khi đối tượng tranh chấp không còn; tiết kiệm thời gian, công sức và chi phí cho cả Tòa án lẫn các bên tham gia tố tụng.

Tác giả tổng hợp 04 cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ghi nhận chế định:

  • Do ý chí của các đương sự (rút đơn, tự hòa giải, không còn quyền khởi kiện hoặc hết thời hiệu);
  • Do sai sót từ phía Tòa án khi xem xét thụ lý vụ án không đủ điều kiện;
  • Do thiếu sót từ phía đương sự khi thực hiện nghĩa vụ (vắng mặt lần thứ hai không có lý do chính đáng, không nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng);
  • Do phát sinh tình huống pháp lý mới làm vụ án không thể tiếp tục giải quyết (cá nhân chết, pháp nhân giải thể hoặc phá sản mà không có chủ thể kế thừa).

Chương 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm

Tác giả đi sâu phân tích 05 nhóm căn cứ chủ yếu theo khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015:

  • Điểm a: Đương sự là cá nhân chết mà quyền, nghĩa vụ không được thừa kế. Quy định này gắn với quyền nhân thân (Điều 25 BLDS năm 2015) và nghĩa vụ tài sản gắn liền nhân thân. Đối với vụ án tranh chấp tài sản thuần túy, Tòa án áp dụng Điều 74 BLTTDS để người thừa kế kế thừa; nếu chưa xác định được người thừa kế thì phải tạm đình chỉ theo điểm a khoản 1 Điều 214 chứ không được đình chỉ.
  • Điểm b: Cơ quan, tổ chức bị giải thể, phá sản mà không có cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng. Phân biệt rõ từ ngữ "không có" (căn cứ đình chỉ) và "chưa có" (căn cứ tạm đình chỉ tại điểm a khoản 1 Điều 214).
  • Điểm c: Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn vắng mặt lần thứ hai dù được triệu tập hợp lệ. BLTTDS năm 2015 thay đổi cụm từ "rút đơn khởi kiện" thành "rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện", tạo sự chuẩn xác về mặt tố tụng. Tại phiên tòa sơ thẩm, luật dùng thuật ngữ "đình chỉ xét xử" (Điều 244, 245), tuy nhiên biểu mẫu số 46-DS theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP vẫn đặt tên là "Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự". Tác giả chỉ ra việc bỏ căn cứ "người khởi kiện không có quyền khởi kiện" tại điểm c là thiếu sót đối với trường hợp sau khi thụ lý mới phát sinh sự kiện làm mất quyền (ví dụ thụ lý ly hôn sau đó phát hiện người vợ đang mang thai).
  • Điểm d: Đã có quyết định mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là đương sự trong vụ án có liên quan đến nghĩa vụ tài sản.
  • Điểm đ: Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác.

Về xử lý tiền tạm ứng án phí, tác giả hệ thống hóa theo bảng so sánh:

Hình thức xử lý tiền tạm ứng án phí Căn cứ áp dụng (BLTTDS năm 2015)
Sung vào công quỹ nhà nước - Cá nhân chết không có người kế thừa (điểm a khoản 1 Điều 217).
- Cơ quan, tổ chức giải thể, phá sản không có người kế thừa (điểm b khoản 1 Điều 217).
- Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217).
Trả lại cho đương sự - Người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện (điểm c khoản 1 Điều 217).
- Đã có quyết định mở thủ tục phá sản (điểm d khoản 1 Điều 217).
- Nguyên đơn không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá và chi phí tố tụng khác (điểm đ khoản 1 Điều 217).
- Hết thời hiệu khởi kiện và có yêu cầu áp dụng (điểm e khoản 1 Điều 217).
- Các trường hợp thuộc khoản 1 Điều 192 mà Tòa án đã thụ lý (điểm g khoản 1 Điều 217).

Về thẩm quyền, Điều 219 BLTTDS năm 2015 phân định: Thẩm phán ra quyết định trước khi mở phiên tòa (mẫu số 45-DS); HĐXX ra quyết định tại phiên tòa (mẫu số 46-DS). Tác giả chỉ ra mâu thuẫn giữa Công văn số 64/TANDTC-PC (TAND tối cao xác định thời điểm bắt đầu phiên tòa là thủ tục khai mạc phiên tòa, do đó trước khai mạc Thẩm phán vẫn có thẩm quyền) và Quyết định số 399/QĐ-VKSTC (VKSND tối cao xác định từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì thẩm quyền thuộc về HĐXX). Tác giả đồng tình với quan điểm của VKSND tối cao vì quyết định đưa vụ án ra xét xử đã chỉ định Hội thẩm nhân dân và hồ sơ đã hoàn tất cho việc xét xử tập thể.

Về thủ tục, BLTTDS năm 2015 rút ngắn thời hạn gửi quyết định đình chỉ cho đương sự và Viện kiểm sát từ 05 ngày làm việc xuống còn 03 ngày làm việc. Đồng thời, khoản 4 Điều 217 bổ sung quy định: vụ án được xét xử sơ thẩm lại sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm mà Tòa án đình chỉ thì phải giải quyết hậu quả thi hành án và phải có sự đồng ý của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Chương 2 tổng kết 05 bất cập, hạn chế lớn:

  1. Thiếu quy định giải quyết đối với vụ án có nhiều quan hệ pháp luật hỗn hợp (vừa có tranh chấp nhân thân, vừa có tranh chấp tài sản) khi đương sự chết.
  2. Mâu thuẫn câu chữ giữa điểm c khoản 1 Điều 217 ("nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần hai vẫn vắng mặt") và điểm a khoản 2 Điều 227 ("Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai") gây xung đột cách hiểu khi lần 1 có mặt nhưng lần 2 vắng mặt.
  3. Xung đột giữa điểm d khoản 1 Điều 217 BLTTDS với Điều 71, Điều 86 Luật Phá sản năm 2014 khi doanh nghiệp phục hồi hoạt động kinh doanh thành công.
  4. Thiếu thống nhất về việc có ghi hay không ghi quyền khởi kiện lại trong nội dung Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo Mẫu số 45-DS.
  5. Vướng mắc tại khoản 1 Điều 299 BLTTDS: Ở giai đoạn phúc thẩm, nguyên đơn rút đơn khởi kiện, bị đơn đồng ý nhưng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu độc lập thì chưa có điều luật hướng dẫn giải quyết.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội và một số kiến nghị

Về khái quát đơn vị khảo sát:

  • Quận Thanh Xuân thành lập theo Nghị định số 74-CP ngày 22/11/1996, hoạt động từ ngày 01/01/1997, gồm 11 phường: Khương Mai, Hạ Đình, Thượng Đình, Khương Đình, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Nhân Chính, Khương Trung, Phương Liệt, Kim Giang, Thanh Xuân Trung.
  • Mật độ dân số đạt 31.984 người/km2 (thuộc nhóm cao nhất Hà Nội tính đến năm 2024), dẫn đến các giao lưu dân sự, kinh doanh thương mại rất phong phú, số lượng tranh chấp phức tạp.
  • Về tổ chức bộ máy, TAND quận Thanh Xuân (trụ sở tại Ngõ 27 Lê Văn Lương) có 13 Thẩm phán, 11 Thư ký, 25 công chức. Hàng năm, số lượng vụ việc các loại mà đơn vị thụ lý, giải quyết lên đến trên 1.000 vụ việc, thuộc nhóm đơn vị có khối lượng công việc cao trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Thực tiễn thực hiện tại đơn vị từ ngày 05/06/2023: TAND quận Thanh Xuân đã áp dụng tương đối đồng bộ các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án, giải quyết dứt điểm các vụ việc nguyên đơn rút đơn hoặc vắng mặt nhiều lần, góp phần giảm áp lực án tồn đọng. Tuy nhiên, đơn vị gặp khó khăn trong việc xác định tư cách kế thừa tố tụng khi tổ chức giải thể, vướng mắc trong thu thập chứng cứ để xử lý trường hợp không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản, và bất cập khi tống đạt văn bản tố tụng triệu tập đương sự lần thứ hai.

Các kiến nghị do tác giả đề xuất:

  • Kiến nghị hoàn thiện pháp luật:
    • Sửa đổi, hướng dẫn cụ thể điểm a khoản 1 Điều 217 theo hướng tách riêng quan hệ nhân thân (đình chỉ) và quan hệ tài sản (tiếp tục giải quyết theo Điều 74).
    • Thống nhất thuật ngữ về thời điểm triệu tập lần thứ hai giữa Điều 217 và Điều 227 BLTTDS năm 2015.
    • Sửa đổi, bổ sung quy định phối hợp giữa BLTTDS và Luật Phá sản, làm rõ cơ chế phục hồi vụ án dân sự khi thủ tục phá sản bị đình chỉ do doanh nghiệp phục hồi kinh doanh thành công.
    • Hướng dẫn thống nhất trong biểu mẫu về việc ghi rõ hậu quả pháp lý về quyền khởi kiện lại để bảo vệ quyền lợi đương sự.
    • Ban hành hướng dẫn xử lý trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 299 BLTTDS khi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên yêu cầu độc lập.
  • Kiến nghị bảo đảm thực hiện tại TAND quận Thanh Xuân: Tăng cường tập huấn kỹ năng áp dụng căn cứ đình chỉ cho Thẩm phán, Thư ký; phối hợp chặt chẽ giữa TAND quận Thanh Xuân và VKSND quận Thanh Xuân trong việc thống nhất mốc thẩm quyền đình chỉ trước phiên tòa; nâng cao chất lượng thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng trên địa bàn 11 phường.

Kết quả và đóng góp của khóa luận

Khóa luận đã trích xuất và phân tích hệ thống số liệu tổ chức bộ máy cùng dữ liệu thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân: đơn vị có 13 Thẩm phán, 11 Thư ký, 25 công chức, giải quyết trên 1.000 vụ việc mỗi năm trong bối cảnh mật độ dân số quận đạt 31.984 người/km2.

Tác giả làm rõ các mốc quy định mới của BLTTDS năm 2015 so với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi năm 2011), tiêu biểu như:

  • Bổ sung căn cứ đình chỉ do không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác (điểm đ khoản 1 Điều 217);
  • Rút ngắn thời hạn gửi quyết định đình chỉ từ 05 ngày xuống còn 03 ngày làm việc;
  • Bổ sung quy định bắt buộc giải quyết hậu quả thi hành án và yêu cầu sự đồng ý của bị đơn, người liên quan khi đình chỉ vụ án xét xử sơ thẩm lại sau giám đốc thẩm, tái thẩm (khoản 4 Điều 217).

Về đóng góp so với các công trình trước đây: Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu chế định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm gắn trực tiếp với dữ liệu thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân trong giai đoạn từ tháng 6/2023 đến năm 2024, khắc phục khoảng trống của các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu dừng lại ở góc độ lý luận thuần túy hoặc tiếp cận trên nền tảng các văn bản luật cũ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có các giới hạn nghiên cứu được tác giả nêu rõ:

  • Giới hạn về phạm vi cấp xét xử: Chỉ tập trung nghiên cứu thủ tục đình chỉ vụ án dân sự ở cấp sơ thẩm theo BLTTDS năm 2015; không nghiên cứu thủ tục tại Tòa án cấp phúc thẩm và không nghiên cứu thủ tục đình chỉ giải quyết việc dân sự.
  • Giới hạn về phạm vi thực tiễn: Dữ liệu thực tiễn chỉ khảo sát tại một đơn vị hành chính cấp quận là TAND quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội trong giai đoạn từ ngày 05/06/2023 đến năm 2024.

Hướng phát triển đề tài: Nghiên cứu mở rộng sang cơ chế đình chỉ tại cấp phúc thẩm, đình chỉ giải quyết việc dân sự, hoặc khảo sát mở rộng so sánh thực tiễn tại các Tòa án nhân dân cấp huyện khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành Luật học, đặc biệt là chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự. Nội dung nghiên cứu cung cấp cơ sở đối chiếu cho những người làm đề tài về giải quyết tranh chấp dân sự, thẩm quyền sơ thẩm và thực tiễn xét xử tại Tòa án cấp quận/huyện.

Các phần có giá trị tham khảo chuyên môn sâu gồm:

  • Phân tích xung đột về mốc thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giữa Công văn số 64/TANDTC-PC của TAND tối cao và Quyết định số 399/QĐ-VKSTC của VKSND tối cao (mục 2.3).
  • Luận giải 05 điểm nghẽn của quy phạm pháp luật thực định tại mục 2.5 (vụ án hỗn hợp nhân thân - tài sản, phục hồi doanh nghiệp sau phá sản, thủ tục Điều 299 BLTTDS).
  • Bảng tổng hợp các trường hợp xử lý tiền tạm ứng án phí (sung công quỹ hay trả lại) theo Điều 218 BLTTDS năm 2015.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận định nghĩa đình chỉ giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp sơ thẩm như thế nào?
Khóa luận xác định đây là hoạt động tố tụng ở cấp sơ thẩm của Tòa án nhằm quyết định ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý theo trình tự, thủ tục nhất định khi phát hiện một trong những căn cứ do pháp luật quy định.

Điểm khác biệt căn bản giữa căn cứ đình chỉ tại điểm b khoản 1 Điều 217 và tạm đình chỉ tại điểm a khoản 1 Điều 214 BLTTDS năm 2015 đối với tổ chức giải thể, phá sản là gì?
Sự khác biệt cốt lõi nằm ở hai thuật ngữ: điểm a khoản 1 Điều 214 áp dụng khi "chưa có" cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng (Tòa án tạm ngừng để có thời gian xác định chủ thể); còn điểm b khoản 1 Điều 217 áp dụng khi "không có" cơ quan, tổ chức, cá nhân nào kế thừa (chấm dứt hẳn tố tụng).

Tiền tạm ứng án phí được xử lý thế nào khi vụ án bị đình chỉ do nguyên đơn được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt?
Theo quy định tại khoản 2 Điều 218 BLTTDS năm 2015 được khóa luận phân tích, trong trường hợp nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217), số tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp sẽ bị sung vào công quỹ nhà nước.

Tác giả đồng tình với quan điểm của TAND tối cao hay VKSND tối cao về thời điểm chuyển giao thẩm quyền đình chỉ từ Thẩm phán sang HĐXX?
Tác giả đồng tình với quan điểm của VKSND tối cao (tại Quyết định số 399/QĐ-VKSTC), xác định mốc chuyển giao thẩm quyền là thời điểm Thẩm phán ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử chứ không phải thời điểm khai mạc phiên tòa theo Công văn số 64/TANDTC-PC của TAND tối cao, bởi sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì nguyên tắc xét xử tập thể của HĐXX đã được thiết lập.

Quy định đặc thù nào được áp dụng khi đình chỉ vụ án dân sự được xét xử sơ thẩm lại sau khi có quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm?
Theo khoản 4 Điều 217 BLTTDS năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm phải giải quyết hậu quả của việc thi hành bản án đã bị hủy trước đó trong quyết định đình chỉ, đồng thời việc đình chỉ này bắt buộc phải có sự đồng ý của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Huyền Trang đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm, phân tích sâu sắc các căn cứ, thẩm quyền, thủ tục và hậu quả pháp lý theo BLTTDS năm 2015. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn tại TAND quận Thanh Xuân, công trình chỉ ra các điểm xung đột giữa luật tố tụng với pháp luật chuyên ngành cũng như sự thiếu thống nhất trong văn bản hướng dẫn nghiệp vụ giữa ngành Tòa án và ngành Kiểm sát. Các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và bảo đảm thực hiện tại cơ quan tư pháp địa phương được đề xuất với lập luận chặt chẽ, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp dân sự trong giai đoạn hiện nay.