Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong hệ thống pháp luật dân sự và tố tụng dân sự, nguyên tắc tự do thỏa thuận và quyền tự định đoạt của đương sự giữ vị trí trung tâm. Khác biệt cơ bản với tố tụng hình sự hay tố tụng hành chính mang nặng tính quyền uy nhà nước và áp đặt phán quyết, quan hệ pháp luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản và nhân thân trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể. Do đó, hòa giải luôn được xác định là phương thức ưu tiên và hữu hiệu nhằm giải quyết các bất đồng, giúp hàn gắn các mối quan hệ xã hội, bảo đảm tính bền vững của trật tự tư pháp mà không cần viện dẫn đến quyền lực tài phán cưỡng chế.

Về mặt lập pháp, chế định hòa giải trong tố tụng dân sự Việt Nam đã được hệ thống hóa toàn diện tại Chương XIII của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2015 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2016). Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy nhiều quy định vẫn bộc lộ bất cập, khuyết thiếu về trình tự, thủ tục; một số điều khoản chưa đồng bộ với Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015, dẫn tới hiện tượng Tòa án cấp trên phải sửa hoặc hủy quyết định công nhận sự thỏa thuận của đương sự. Nhằm giải quyết các vướng mắc lý luận và thực tiễn này, tác giả Phạm Bảo Chi thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Hoà giải vụ án dân sự".

Mục tiêu nghiên cứu: Mục đích bao trùm của khóa luận là làm rõ hệ thống lý luận về hòa giải vụ án dân sự (VADS), phân tích thực trạng các quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Tòa án nhân dân (TAND), từ đó chỉ rõ các vướng mắc, bất cập và kiến nghị giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng như bảo đảm hiệu quả thi hành.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về hòa giải VADS: khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, cơ sở pháp lý và sơ lược quá trình hình thành, phát triển lịch sử của chế định này trong pháp luật Việt Nam.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành công tác hòa giải tại TAND; chỉ rõ các hạn chế, vướng mắc và căn nguyên phát sinh.
  3. Luận giải và đề xuất hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về hòa giải vụ án dân sự tại Tòa án.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống quy phạm pháp luật thực định về hòa giải VADS tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng, thi hành pháp luật thông qua đánh giá các vụ án cụ thể (hòa giải thành và không thành).
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về hòa giải VADS trong tố tụng dân sự của Tòa án tại giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm; không đi sâu vào các giai đoạn tố tụng khác hoặc cơ chế hòa giải tiền tố tụng ngoài phạm vi TAND sơ thẩm. Đề tài được tiếp cận dưới hai góc độ: phương diện pháp luật thực định và hoạt động thực tiễn thi hành.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa nền tảng lý luận pháp lý, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước cùng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định qua các thời kỳ:

  • Khung lý luận và cơ sở pháp lý:

    • Nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về hòa giải và công tác tư pháp.
    • Quan điểm chỉ đạo về cải cách tư pháp tại Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 (chủ trương khuyến khích giải quyết tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài).
    • Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định: BLTTDS năm 2015, BLDS năm 2015, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020; các văn bản chỉ đạo ngành của TANDTC như Chỉ thị số 04/2017/CT-TA ngày 03/10/2017 về tăng cường công tác hòa giải tại TAND, Nghị quyết số 05/2012/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP.
    • Các văn bản pháp luật mang tính lịch sử: Sắc lệnh số 13 ngày 24/01/1946, Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946, Sắc lệnh 85/SL ngày 22/5/1950; Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959; Thông tư số 25-TATC ngày 30/11/1974 của TANDTC; Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989; BLTTDS năm 2004.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các quy định pháp luật chuyên ngành, bóc tách cấu trúc điều luật và khái quát hóa thành các luận điểm khoa học pháp lý.
    • Phương pháp chứng minh: Đưa ra các luận cứ, lập luận logic và viện dẫn vụ án thực tế để chứng minh cho các nhận định của tác giả về bất cập quy phạm.
    • Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Khảo cứu hoạt động thụ lý, chuẩn bị xét xử và điều hành phiên hòa giải tại TAND cấp huyện (tiêu biểu như TAND thành phố Hạ Long).
    • Phương pháp thống kê số liệu: Tập hợp, xử lý dữ liệu thống kê từ các Báo cáo tổng kết công tác qua các năm của TANDTC để đánh giá xu hướng tỷ lệ hòa giải thành.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất từ các văn bản luật, nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, các báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án giai đoạn 2019–2023 đăng tải trên Cổng thông tin điện tử TANDTC, cùng các hồ sơ vụ án dân sự thực tế phát sinh năm 2023.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoà giải vụ án dân sự

Chương 1 thiết lập khung lý luận cơ bản về hòa giải trong tố tụng dân sự thông qua việc định danh khái niệm, chỉ ra các đặc trưng cấu thành, ý nghĩa kinh tế - xã hội và lược sử lập pháp:

  • Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở so sánh các cách tiếp cận từ Từ điển Black's Law Dictionary, Từ điển Tiếng Việt, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự và Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, tác giả định nghĩa: Hòa giải vụ án dân sự trong tố tụng dân sự là hoạt động do Tòa án có thẩm quyền tiến hành sau khi thụ lý vụ án dân sự và trước khi xét xử sơ thẩm, được tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm giúp đỡ các bên đương sự thương lượng, thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự. Hoạt động này được đặc trưng bởi 05 thuộc tính cơ bản:
    1. Bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự: Tôn trọng quyền tự định đoạt; Tòa án chỉ giữ vai trò trung gian hỗ trợ, không áp đặt ý chí.
    2. Là một nguyên tắc và thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết VADS: Được ghi nhận tại Điều 10 và khoản 1 Điều 205 BLTTDS 2015, gắn với trách nhiệm của Tòa án trong việc ổn định trật tự xã hội.
    3. Là hoạt động do Tòa án tiến hành sau khi thụ lý và trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm: Khác biệt với hòa giải tiền tố tụng theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án 2020.
    4. Do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án chủ trì tiến hành: Thẩm phán là người trực tiếp nghiên cứu hồ sơ, phân tích hậu quả pháp lý cho các bên.
    5. Kết quả thỏa thuận được bảo đảm thi hành bằng quyền lực nhà nước: Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận có hiệu lực thi hành ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
  • Ý nghĩa của hòa giải VADS: Được luận giải trên 03 bình diện: (i) Đối với đương sự: giải quyết triệt để mâu thuẫn từ gốc, duy trì quan hệ đoàn kết, giảm thiểu chi phí và thời gian tố tụng; (ii) Đối với Tòa án: giải quyết vụ án mà không cần mở phiên tòa xét xử, hạn chế tình trạng khiếu kiện kéo dài, nâng cao uy tín cơ quan tư pháp; (iii) Đối với xã hội: củng cố thuần phong mỹ tục, giảm thiểu xung đột pháp lý dẫn đến tội phạm, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
  • Cơ sở pháp luật: Luận chứng dựa trên nền tảng quyền tự do cam kết của quan hệ dân sự, yêu cầu thể chế hóa chủ trương cải cách tư pháp và áp lực thực tế khi số lượng đơn khởi kiện tại Tòa án gia tăng nhanh chóng (với tỷ lệ hòa giải thành giai đoạn 2019–2023 luôn duy trì trên 50%).
  • Lịch sử hình thành và phát triển: Phân chia thành 03 giai đoạn tiến hóa pháp lý:
    • Giai đoạn 1945–1989: Ghi nhận hòa giải từ Sắc lệnh 13, 51/SL năm 1946; Sắc lệnh 85/SL năm 1950 quy định biên bản hòa giải thành là công chứng thư; Thông tư 25-TATC năm 1974 đặt nền móng chi tiết về thẩm quyền, phạm vi và phương pháp hòa giải.
    • Giai đoạn 1989–2005: Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 hoàn thiện bước tiến quan trọng khi quy định Tòa án chỉ ban hành quyết định công nhận hòa giải thành sau một thời hạn luật định (Điều 44).
    • Giai đoạn 2005 đến nay: BLTTDS 2004 và tiếp đó là BLTTDS 2015 đã hệ thống hóa toàn diện chế định hòa giải thành nguyên tắc cơ bản và quy định chi tiết tại một chương độc lập.

Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về hoà giải vụ án dân sự

Tác giả đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định tại BLTTDS năm 2015 điều chỉnh hoạt động hòa giải sơ thẩm, đồng thời chỉ rõ các điểm nghẽn kỹ thuật lập pháp:

  • Hệ thống nguyên tắc hòa giải (Điều 205): Bảo đảm sự tự nguyện thỏa thuận, nghiêm cấm sử dụng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực; nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội (viện dẫn sự tương thích với Điều 117 và 123 BLDS 2015). Tác giả lưu ý điều luật hiện còn bỏ ngỏ cơ chế nhận diện hành vi cưỡng ép tinh thần tinh vi hoặc trường hợp lợi dụng hòa giải để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ thi hành án.
  • Phạm vi hòa giải vụ án dân sự:
    • Vụ án tiến hành hòa giải: Áp dụng bắt buộc đối với hầu hết các tranh chấp dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (Điều 26, 28, 30 BLTTDS 2015).
    • Vụ án không được hòa giải (Điều 206): Bao gồm tranh chấp yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại đến tài sản Nhà nước và giao dịch dân sự vi phạm điều cấm của luật hoặc trái đạo đức xã hội. Tác giả phát hiện sự thiếu đồng bộ: Điều 206 BLTTDS 2015 vẫn sử dụng thuật ngữ "tài sản của Nhà nước", trong khi Điều 197 BLDS 2015 đã chuẩn hóa thành "tài sản thuộc sở hữu toàn dân".
    • Vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207): 04 trường hợp luật định gồm: bị đơn/người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cố tình vắng mặt sau 02 lần triệu tập hợp lệ; đương sự không thể tham gia vì lý do chính đáng; vợ/chồng trong vụ án ly hôn mất năng lực hành vi dân sự; đương sự có văn bản đề nghị không hòa giải. Bất cập phát sinh ở chỗ luật dùng thuật ngữ "triệu tập" thay vì "thông báo", chưa định lượng rõ tiêu chí "lý do chính đáng", và bỏ sót chủ thể "người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" theo quy định của BLDS 2015.
  • Thành phần tham gia phiên hòa giải (Điều 209): Bao gồm thành phần bắt buộc (Thẩm phán chủ trì, Thư ký Tòa án ghi biên bản, các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp) và thành phần không bắt buộc (người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người phiên dịch). Tác giả đề xuất cần có quy định mời thêm cơ quan chuyên môn (đo đạc địa chính, định giá tài sản) trong các vụ án phức tạp.
  • Thủ tục và trình tự tiến hành hòa giải (Điều 208, 210, 211, 212, 213):
    • Bất cập về cấu trúc phiên họp: Luật quy định gộp chung thủ tục kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải trong cùng một phiên họp (Điều 208, Điều 210). Khi một bên bất ngờ xuất trình tài liệu bất lợi cho bên kia, không khí phiên họp lập tức rơi vào căng thẳng đối kháng, làm triệt tiêu thiện chí hòa giải.
    • Bất cập về thời hạn và hiệu lực: Khoản 1 Điều 212 quy định sau thời hạn 07 ngày kể từ ngày lập biên bản hòa giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì Thẩm phán ra quyết định công nhận. Tuy nhiên, luật chưa minh định phương thức thay đổi ý kiến (bằng văn bản hay lời nói), cách tính thời hạn nhận văn bản phản đối, và xử lý thế nào khi cần lấy ý kiến bằng văn bản của đương sự vắng mặt.
    • Ví dụ thực tế: Tác giả dẫn chứng hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 70/TLST-DS 2023 ngày 03/4/2023 của TAND TP Hạ Long giữa nguyên đơn Trần Thị Thu H và bị đơn Nguyễn Đức V về tranh chấp nghĩa vụ thanh toán tiền sau ly hôn (liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 409 trị giá thỏa thuận 1,5 tỷ đồng). Phiên hòa giải không thành do hai bên bất đồng về phương thức phân kỳ trả nợ và chứng cứ giao nhận tiền trước đó, làm rõ tính chất phức tạp của việc xác định nội dung tranh chấp trong thực tế.

Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật hiện hành về hoà giải vụ án dân sự và kiến nghị

Chương này tập trung lượng hóa kết quả áp dụng pháp luật tại hệ thống TAND trên toàn quốc và xây dựng các đề xuất sửa đổi cụ thể:

  • Thực tiễn thi hành và kết quả hòa giải: Phân tích dữ liệu ngành Tòa án cho thấy sự nỗ lực lớn của các Thẩm phán khi thường xuyên tổ chức từ 2 đến 5 phiên hòa giải cho một vụ án phức tạp nhằm tìm kiếm tiếng nói chung cho các bên (dẫn chứng vụ án đòi nợ thụ lý số 103/2023/TLST-DS ngày 23/5/2023 tại TAND TP Hạ Long giữa Vietcombank Quảng Ninh và ông Nguyễn Đức T). Tỷ lệ hòa giải thành qua các năm luôn bảo đảm chỉ tiêu theo Chỉ thị số 04/2017/CT-TA.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và bảo đảm thực thi: Trình bày hệ thống giải pháp sửa đổi BLTTDS 2015 nhằm khắc phục triệt để các khoảng trống pháp lý đã chỉ ra ở Chương 2.

Kết quả và đóng góp

Số liệu thực tiễn trong văn bản

Hiệu quả giải quyết vụ án dân sự qua công tác hòa giải tại hệ thống TAND trên toàn quốc được tác giả tổng hợp tại Bảng số 3.1:

Năm Số VADS thụ lý (vụ) Số VADS đã giải quyết (vụ) Số VADS hoà giải thành (vụ) Tỷ lệ hoà giải thành (%)
2019 432.666 378.441 205.043 54,2%
2020 Không nêu tổng thụ lý 448.025 233.164 52,0%
2021 Không nêu tổng thụ lý 422.299 179.653 55,3%
2022 444.402 386.944 217.055 56,1%
2023 468.828 408.070 221.099 54,2%

Ghi chú: Số liệu tổng hợp từ Báo cáo tổng kết công tác hàng năm của TANDTC. Giai đoạn 2019–2021 chịu tác động nặng nề bởi dịch bệnh COVID-19, tuy nhiên tỷ lệ hòa giải thành tại Tòa án luôn giữ vững trên 50%, bảo đảm chỉ tiêu ngành đề ra tại Chỉ thị số 04/2017/CT-TA. Năm 2023, tỷ lệ hòa giải thành có xu hướng giảm nhẹ (đạt 54,2%) do việc chuyển lưu một lượng đáng kể các tranh chấp sang cơ chế hòa giải tiền tố tụng theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  1. Sửa đổi, bổ sung quy định về các trường hợp không được hòa giải (Điều 206 BLTTDS): Thay thế cụm từ "tài sản của Nhà nước" bằng "tài sản thuộc sở hữu toàn dân" để thống nhất hoàn toàn với Điều 197 BLDS năm 2015.
  2. Chuẩn hóa quy định về các vụ án không tiến hành hòa giải được (Điều 207 BLTTDS):
    • Thay thuật ngữ "Tòa án triệu tập hợp lệ" bằng "Tòa án thông báo hợp lệ" để phản ánh chính xác thẩm quyền của Thẩm phán trong giai đoạn chuẩn bị xét xử (phù hợp với các Mẫu văn bản tố tụng số 31-DS và 32-DS ban hành kèm Nghị quyết số 04/2018/NQ-HĐTP).
    • Ban hành văn bản hướng dẫn định lượng các tiêu chí xác định "lý do chính đáng" khi đương sự vắng mặt.
    • Bổ sung trường hợp đương sự là "người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" vào diện vụ án không tiến hành hòa giải được khi tham gia tố tụng mà không thể tự thực hiện quyền định đoạt.
  3. Cải cách thủ tục tổ chức phiên hòa giải (Điều 208, 210 BLTTDS): Ban hành quy định tách biệt rõ ràng giữa phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ với phiên hòa giải; chỉ mở phiên hòa giải sau khi các bên đã tiếp cận đầy đủ chứng cứ và có thời gian chuẩn bị phương án thương lượng.
  4. Hoàn thiện cơ chế ra quyết định công nhận sự thỏa thuận (Điều 212 BLTTDS): Quy định rõ thời hạn lấy ý kiến đương sự vắng mặt, hình thức thông báo thay đổi ý kiến (bắt buộc bằng văn bản), và ấn định cụ thể số lượng phiên hòa giải tối đa cho một vụ án nhằm tránh kéo dài thời gian chuẩn bị xét xử.

Đóng góp mới của đề tài

  • Tổng hợp và hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận về hòa giải vụ án dân sự từ góc độ tố tụng tư pháp.
  • Phát hiện các mâu thuẫn kỹ thuật lập pháp giữa BLTTDS năm 2015 với BLDS năm 2015 và các đạo luật liên quan.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn phục vụ cho quá trình rà soát, đánh giá để sửa đổi, bổ sung BLTTDS trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách tư pháp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu của khóa luận mới chỉ giới hạn ở hoạt động hòa giải vụ án dân sự trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm tại TAND; chưa mở rộng đánh giá cơ chế thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm, hoặc giai đoạn thi hành án dân sự. Số liệu thực tiễn và khảo cứu hồ sơ vụ án chủ yếu tập trung tại địa bàn cấp huyện (TAND TP Hạ Long).
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Khảo cứu sâu cơ chế phối hợp và mối quan hệ chuyển tiếp giữa thủ tục hòa giải theo BLTTDS 2015 với thủ tục hòa giải tiền tố tụng theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án năm 2020.
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang các thủ tục công nhận sự thỏa thuận của đương sự tại cấp phúc thẩm và giám đốc thẩm.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Tố tụng dân sự, Luật Dân sự; Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư và cán bộ nghiên cứu lập pháp.
  • Phần nội dung có giá trị cao:
    • Chương 1: Cung cấp tư liệu tổng hợp về lịch sử lập pháp tố tụng dân sự qua các văn kiện từ năm 1945 đến nay.
    • Chương 2: Cung cấp các phân tích thực chứng sắc sảo về các kẽ hở điều luật tại các Điều 205, 206, 207, 208, 210 và 212 BLTTDS 2015.
    • Chương 3: Cung cấp chuỗi số liệu thống kê chính thống 5 năm liên tục (2019–2023) về công tác hòa giải tại TAND trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo khóa luận, đâu là 05 đặc điểm cốt lõi phân biệt hòa giải VADS trong tố tụng với các hình thức hòa giải ngoài tố tụng?
Khóa luận xác định 05 đặc điểm: (1) Bản chất cốt lõi là sự tự nguyện thỏa thuận của đương sự; (2) Là một nguyên tắc cơ bản và thủ tục bắt buộc trong quá trình giải quyết vụ án; (3) Được tiến hành sau khi Tòa án thụ lý và trước khi quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; (4) Do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án trực tiếp chủ trì; (5) Kết quả hòa giải thành được công nhận bằng quyết định có hiệu lực pháp luật ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và được bảo đảm thi hành bằng quyền lực nhà nước.

2. Điểm mâu thuẫn giữa Điều 206 BLTTDS 2015 và BLDS 2015 về vụ án không được hòa giải là gì?
Khoản 1 Điều 206 BLTTDS năm 2015 quy định không hòa giải đối với yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến "tài sản của Nhà nước". Tuy nhiên, Điều 197 BLDS năm 2015 không còn duy trì hình thức "sở hữu nhà nước" mà thay bằng hình thức "sở hữu toàn dân". Sự không đồng bộ này đòi hỏi phải sửa đổi Điều 206 BLTTDS để tránh xung đột pháp lý.

3. Tại sao tác giả đề xuất tách biệt phiên họp công khai chứng cứ và phiên hòa giải?
Điều 208 và 210 BLTTDS 2015 ghép chung phiên tiếp cận chứng cứ và hòa giải. Tác giả chỉ ra rằng khi đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ bất lợi hoặc có tình tiết mới mâu thuẫn, tâm lý hai bên sẽ chuyển sang trạng thái đối kháng, triệt tiêu không khí thiện chí. Việc tách riêng hai phiên này giúp Thẩm phán và các bên có thời gian nghiên cứu toàn diện chứng cứ trước khi bước vào đàm phán giải pháp.

4. Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp lý như thế nào?
Theo Điều 213 BLTTDS năm 2015, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Quyết định này chỉ có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ chứng minh sự thỏa thuận là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa, cưỡng ép hoặc vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã hội.

5. Tỷ lệ hòa giải thành vụ án dân sự tại các TAND giai đoạn 2019–2023 đạt kết quả ra sao?
Dữ liệu Bảng 3.1 cho thấy tỷ lệ hòa giải thành luôn đạt trên 50%: năm 2019 đạt 54,2%; năm 2020 đạt 52,0%; năm 2021 đạt 55,3%; năm 2022 đạt 56,1% và năm 2023 đạt 54,2%. Kết quả này bảo đảm hoàn thành chỉ tiêu ngành Tòa án đặt ra tại Chỉ thị số 04/2017/CT-TA.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Bảo Chi đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn về chế định hòa giải vụ án dân sự theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Thông qua việc phân tích chuyên sâu các quy định tại BLTTDS năm 2015 đối chiếu với BLDS năm 2015 và số liệu thực tiễn xét xử giai đoạn 2019–2023, công trình đã làm sáng tỏ nhiều khoảng trống pháp lý cần khắc phục. Các kiến nghị sửa đổi về kỹ thuật lập pháp tại các Điều 206, 207, 208 và 212 mang giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự và định hướng nâng cao chất lượng xét xử trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.