Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động mua bán hàng hóa (MBHH) qua Sở giao dịch hàng hóa (SGDHH) là phương thức giao dịch tập trung đã phát triển lâu đời trên thế giới, đóng vai trò bảo hiểm rủi ro biến động giá và hỗ trợ tìm kiếm lợi nhuận thông qua các công cụ phái sinh. Tính đến thời điểm nghiên cứu, trên thế giới có gần 100 sở giao dịch hàng hóa phái sinh, riêng khu vực Châu Á có hơn 30 sở. Tại Việt Nam, quá trình hình thành thị trường đã ghi nhận sự ra đời của một số đơn vị như Trung tâm thủy sản Cần Giờ (Cangio ATC), Sở giao dịch Hàng hóa và Cà phê Buôn Mê Thuột (BCCE) và Sở giao dịch Hàng hóa Việt Nam (MXV). Tuy nhiên, các tổ chức này từng gặp tình trạng đóng cửa hoặc hoạt động cầm chừng, chưa đạt kỳ vọng do nhận thức của xã hội còn hạn chế và hành lang pháp lý chưa hoàn thiện.
Các quy định pháp luật hiện hành mới dừng lại ở việc thiết lập khung khổ chung về thành lập, chức năng của SGDHH, quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên mà chưa hình thành cơ chế vận hành chi tiết, dẫn đến nhiều lúng túng trong áp dụng thực tiễn. Tác giả Tô Thị Ngân thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Luật Thương mại với đề tài "Pháp luật về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa" nhằm làm rõ cơ sở lý luận, nhận diện bất cập quy phạm và kiến nghị giải pháp hoàn thiện.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát là phân tích, đánh giá mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động MBHH qua SGDHH, từ đó định hình các giải pháp sửa đổi, bổ sung phù hợp. Khóa luận xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Cung cấp hệ thống lý luận cơ bản về hoạt động MBHH qua SGDHH và pháp luật điều chỉnh hoạt động này;
- Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành điều chỉnh hoạt động MBHH qua SGDHH gắn với thực tiễn áp dụng;
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về MBHH qua SGDHH tại Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống quy phạm pháp luật hiện hành điều chỉnh trực tiếp hoạt động MBHH qua SGDHH, trọng tâm là Luật Thương mại năm 2005 và các văn bản quy định chi tiết liên quan. Về phạm vi nghiên cứu, đề tài tập trung vào thị trường giao dịch hàng hóa có tổ chức tại Việt Nam dưới góc độ Luật Kinh tế, không mở rộng sang các sàn giao dịch tài sản khác và không nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ Luật Hành chính; đồng thời đối chiếu có chọn lọc với quy định pháp luật tương đương của một số quốc gia trên thế giới.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của khóa luận dựa trên lý luận thương mại về thị trường giao sau có tổ chức, phân định giữa thị trường phi tập trung (OTC) và thị trường tập trung qua SGDHH. Các khái niệm cốt lõi được xây dựng trên cơ sở Điều 63 đến Điều 73 Luật Thương mại năm 2005, kết hợp các công trình nghiên cứu pháp lý tiêu biểu như Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Yên (2011), nghiên cứu của Bùi Thanh Lam (2008), Nguyễn Viết Tý (2010) và sách chuyên khảo của Viện Nghiên cứu thương mại (2000). Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở phân tích gồm:
- Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ngày 14/06/2005 (LTM);
- Nghị định số 158/2006/NĐ-CP ngày 28/12/2006 của Chính phủ;
- Nghị định số 51/2018/NĐ-CP ngày 09/04/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 158/2006/NĐ-CP;
- Văn bản hợp nhất số 15/VBHN-BCT ngày 04/07/2018 của Bộ Công Thương quy định chi tiết Luật Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa (VBHN số 15/VBHN-BCT);
- Quyết định số 4361/QĐ-BCT ngày 18/08/2010 của Bộ Công Thương công bố danh mục hàng hóa được phép giao dịch qua Sở giao dịch hàng hóa;
- Các điều ước và tập quán quốc tế liên quan như Công ước Viên năm 1980 (CISG).
Khóa luận vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hồ Chí Minh. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để giải mã cấu trúc quy phạm, làm rõ nội hàm các khái niệm pháp lý về SGDHH, thành viên kinh doanh, thành viên môi giới và hợp đồng giao dịch, làm tiền đề nhận xét, đánh giá thực trạng;
- Phương pháp so sánh luật học: Tiến hành so chiếu các điều khoản của Nghị định số 51/2018/NĐ-CP với Nghị định số 158/2006/NĐ-CP; đồng thời đối chiếu pháp luật Việt Nam với Luật MBHH tương lai của Singapore (sửa đổi 2007), Luật MBHH tương lai bang Ontario - Canada (1997), Luật Giao dịch hàng nông sản tương lai của Thái Lan (2001, 2007), Luật Hiện đại hóa hàng hóa tương lai của Hoa Kỳ (2000), Luật Doanh nghiệp Australia (1991), Luật Hàn Quốc và Nigeria;
- Phương pháp lịch sử: Theo dõi tiến trình ban hành và chuyển biến của pháp luật thương mại điều chỉnh hoạt động giao dịch hàng hóa qua từng thời kỳ;
- Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các số liệu, tiêu chuẩn tài chính, bước nhảy giá và danh mục hàng hóa niêm yết trong thực tế.
Nguồn dữ liệu của công trình xuất phát từ các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế, văn bản luật nước ngoài, cổng thông tin điện tử Quốc hội, Bộ Công Thương, các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ và tạp chí chuyên ngành luật học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa và pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thị trường giao sau có tổ chức. Tác giả phân tích khái niệm SGDHH theo góc nhìn khoa học và luật thực định. Theo Khoản 1 Điều 63 LTM năm 2005, MBHH qua SGDHH là hoạt động thương mại theo đó các bên thỏa thuận thực hiện mua bán một lượng hàng hóa nhất định qua SGDHH theo tiêu chuẩn của Sở, giá thỏa thuận tại thời điểm giao kết và việc giao nhận hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai. Hoạt động này mang năm đặc điểm pháp lý cơ bản:
- Bản chất là hoạt động mua bán hàng hóa tương lai: Thời điểm ký kết hợp đồng tách rời thời điểm thực hiện nghĩa vụ giao nhận và thanh toán tiền hàng; bao gồm giao dịch kỳ hạn và giao dịch quyền chọn;
- Hoạt động mua bán qua trung gian: SGDHH giữ vai trò trung gian kết nối lệnh mua - bán; các nghĩa vụ thanh toán và chuyển giao quyền sở hữu được thực hiện gián tiếp thông qua Trung tâm thanh toán bù trừ (TTTTBT) và Trung tâm giao nhận hàng hóa (TTGNHH), hình thành các quan hệ hợp đồng độc lập giữa khách hàng, thành viên và các trung tâm chuyên trách;
- Đối tượng hướng tới hàng hóa đặc thù hoặc công cụ tài chính phái sinh: Hàng hóa thực giao dịch qua Sở phải đáp ứng các tiêu chí có thể tích trữ dài ngày, giao dịch khối lượng lớn và biến động giá phụ thuộc hoàn toàn vào quy luật cung cầu thị trường; đối với hợp đồng quyền chọn, đối tượng chuyển dịch chính là quyền tài sản phái sinh;
- Hợp đồng giao dịch tuân thủ các điều khoản chuẩn hóa: Tên hàng hóa, chất lượng (phẩm cấp tiêu chuẩn), khối lượng/quy mô hợp đồng, thời điểm giao hàng và địa điểm kho bãi đều được Sở chuẩn hóa sẵn;
- Chịu sự chi phối của hệ thống quy tắc đa tầng: Hoạt động vừa tuân thủ quy phạm pháp luật quốc gia, vừa chịu sự điều chỉnh của quy chế giao dịch nội bộ của Sở và quy định nghiệp vụ của các thành viên.
Pháp luật điều chỉnh hoạt động MBHH qua SGDHH cấu thành từ bốn nhóm quy phạm chính: quy phạm về địa vị pháp lý và tổ chức SGDHH; quy phạm về điều kiện và quyền nghĩa vụ của các chủ thể tham gia; quy phạm về hợp đồng (kỳ hạn, quyền chọn); và quy phạm về quản lý nhà nước cùng chế tài xử lý vi phạm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa
Chương 2 tập trung phân tích thực trạng các quy định hiện hành và đánh giá tính tương thích trong thực tiễn:
-
Về hình thức pháp lý và điều kiện thành lập SGDHH: Theo Điều 6 VBHN số 15/VBHN-BCT, SGDHH được thành lập và hoạt động dưới hình thức doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp (gồm 4 loại hình: công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân), nới lỏng hơn so với quy định tại Nghị định số 158/2006/NĐ-CP vốn chỉ giới hạn ở công ty TNHH và công ty cổ phần. Điều 8 VBHN số 15/VBHN-BCT quy định điều kiện thành lập gồm vốn điều lệ tối thiểu 150 tỷ đồng (đã chuẩn hóa thuật ngữ thay cho "vốn pháp định"), hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng giải pháp kỹ thuật, và điều lệ không trái pháp luật. So với văn bản cũ, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ tiêu chuẩn riêng về Giám đốc/Tổng giám đốc để nhấn mạnh vào yêu cầu hạ tầng công nghệ. Về cơ cấu tổ chức, quy chế TTTTBT đã được bổ sung chức năng "bù trừ" thay vì chỉ cung cấp dịch vụ thanh toán đơn thuần như trước; TTGNHH chịu trách nhiệm lưu giữ, kiểm định và chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa lưu kho.
-
Về các chủ thể tham gia: Pháp luật quy định hai loại hình thành viên:
- Thành viên kinh doanh (TVKD): Yêu cầu vốn điều lệ từ 75 tỷ đồng trở lên. TVKD có quyền tự doanh tìm kiếm lợi nhuận và nhận ủy thác giao dịch từ khách hàng. Tuy nhiên, việc Điều 161 LTM năm 2005 cho phép bên nhận ủy thác được nhận ủy thác của nhiều bên dẫn đến lỗ hổng pháp lý: TVKD có thể đồng thời khớp lệnh đối ứng giữa các khách hàng của mình hoặc tự đặt lệnh đối ứng với khách hàng ủy thác, tiềm ẩn rủi ro lạm dụng vị thế và xung đột lợi ích.
- Thành viên môi giới (TVMG): Yêu cầu vốn điều lệ từ 5 tỷ đồng trở lên; chỉ thực hiện nghiệp vụ môi giới kết nối giao dịch, tuyệt đối không được trở thành một bên của hợp đồng MBHH qua Sở. Tác giả chỉ ra quy định về TVMG trong VBHN số 15/VBHN-BCT còn quá ngắn gọn, chưa làm rõ quyền và nghĩa vụ tương xứng với tính chất môi giới phái sinh tập trung.
-
Về hợp đồng mua bán qua Sở:
- Hợp đồng kỳ hạn (HĐKH): Khoản 1 Điều 64 LTM năm 2005 quy định HĐKH là thỏa thuận giao nhận hàng hóa tại thời điểm xác định trong tương lai theo giá thỏa thuận tại thời điểm giao kết. Phân tích đối chiếu với Luật MBHH tương lai của Singapore (2007) cho thấy quy định Việt Nam mới nhìn nhận HĐKH ở phương diện giao nhận hàng thực, chưa quy định đầy đủ cơ chế thanh toán bù trừ chênh lệch giá thuần túy phái sinh mà không giao hàng. Các yếu tố chuẩn hóa của hợp đồng gồm: tên hàng, phẩm cấp, thời gian giao hàng, giá cả (yết giá và bước nhảy giá - ví dụ tại BCCE bước nhảy giá cà phê Robusta là 1 USD/tấn), quy mô hợp đồng và phương thức thanh toán/giao nhận qua trung tâm chuyên trách.
- Hợp đồng quyền chọn (HĐQC): Khoản 3 Điều 64 LTM năm 2005 định danh quyền chọn mua và quyền chọn bán; bên mua quyền trả phí quyền chọn (premium) để có quyền thực hiện hoặc không thực hiện việc mua/bán hàng hóa với mức giá ấn định trước. Văn bản pháp luật Việt Nam chưa bao quát việc coi HĐQC là công cụ tài chính phái sinh có thể tự do mua bán chuyển nhượng trên thị trường thứ cấp như Luật bang Ontario - Canada hay Singapore; đồng thời chưa phân định rõ ràng giữa kiểu quyền chọn Mỹ (thực hiện quyền bất kỳ lúc nào trước khi đáo hạn) và kiểu quyền chọn Châu Âu (chỉ thực hiện quyền tại ngày đáo hạn).
-
Về quản lý nhà nước: Bộ Công Thương chịu trách nhiệm chính trước Chính phủ, phối hợp với Bộ Tài chính (quản lý thuế, phí, thẩm tra năng lực tài chính sáng lập viên) và Bộ Kế hoạch và Đầu tư (thẩm tra tính khả thi). Tác giả so sánh mô hình phân tán này với cơ quan quản lý chuyên trách độc lập tại các quốc gia phát triển như Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Giao sau Hoa Kỳ (CFTC), hoặc mô hình giám sát kép tại Australia giữa Ủy ban Đầu tư và Chứng khoán (ASIC) và Ngân hàng Dự trữ (RBA). Các hành vi bị cấm được quy định tại Điều 70 (đối với TVMG) và Điều 71 LTM năm 2005 (đối với nhân viên sở và các bên liên quan).
Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa ở Việt Nam
Chương 3 đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật gắn với yêu cầu xây dựng kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Tác giả kiến nghị hai nhóm giải pháp:
- Hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật:
- Sửa đổi, bổ sung LTM năm 2005 để thừa nhận đầy đủ bản chất phái sinh tài chính của HĐKH và HĐQC, mở rộng đối tượng hợp đồng sang việc giao dịch chính các hợp đồng phái sinh chứ không bó hẹp ở việc giao nhận hàng hóa vật chất;
- Xác định rõ ràng cơ chế phòng ngừa xung đột lợi ích của Thành viên kinh doanh khi vừa tự doanh vừa nhận ủy thác; bổ sung chế tài khi chấm dứt tư cách thành viên;
- Hoàn thiện quy định riêng biệt về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm pháp lý của Thành viên môi giới;
- Về mô hình cơ quan quản lý, định hướng dài hạn cần nghiên cứu thành lập một cơ quan hoặc Ủy ban chuyên trách quản lý thị trường giao dịch hàng hóa tương lai (tương tự CFTC của Hoa Kỳ) nhằm thay thế cơ chế phối hợp liên bộ phân tán hiện nay.
- Nâng cao hiệu quả thi hành: Tăng cường công tác hậu kiểm sau cấp phép đối với tiêu chuẩn công nghệ thông tin của SGDHH, hoàn thiện quy chế niêm yết danh mục hàng hóa và xây dựng hệ thống kiểm tra, giám sát giao dịch trực tiếp.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ các mâu thuẫn, khoảng trống pháp lý của hệ thống quy phạm điều chỉnh MBHH qua SGDHH tại Việt Nam.
Tác giả đã tổng hợp các tiêu chí điều kiện chủ thể và tổ chức vận hành theo quy định hiện hành thông qua bảng so sánh:
| Chủ thể |
Hình thức pháp lý |
Mức vốn điều lệ tối thiểu |
Phạm vi hoạt động nghiệp vụ |
| Sở giao dịch hàng hóa (SGDHH) |
Doanh nghiệp (Công ty CP, TNHH, Hợp danh, DNTN) |
150 tỷ đồng |
Cung cấp hạ tầng kỹ thuật, điều hành giao dịch, niêm yết giá; thành lập TTTTBT và TTGNHH |
| Thành viên kinh doanh (TVKD) |
Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp |
75 tỷ đồng |
Thực hiện nghiệp vụ tự doanh và nhận ủy thác MBHH qua Sở từ khách hàng |
| Thành viên môi giới (TVMG) |
Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp |
5 tỷ đồng |
Thực hiện nghiệp vụ môi giới trung gian, không được là một bên của hợp đồng giao dịch |
Về mặt đóng góp so với các nghiên cứu trước đây:
- Cập nhật và phân tích sâu những điểm mới của Nghị định số 51/2018/NĐ-CP và VBHN số 15/VBHN-BCT (như chuẩn hóa thuật ngữ "vốn điều lệ", bổ sung tiêu chuẩn CNTT, mở rộng loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi chức năng TTTTBT sang bù trừ), chỉ ra sự thiếu đồng bộ khi Luật Thương mại năm 2005 chưa được sửa đổi tương ứng;
- Phát hiện rủi ro pháp lý thực tiễn từ sự chồng chéo giữa Điều 161 LTM năm 2005 và quy chế ủy thác của Thành viên kinh doanh;
- Đưa ra đề xuất xây dựng cơ quan chuyên trách quản lý thị trường hàng hóa phái sinh dựa trên kinh nghiệm luật học so sánh quốc tế (Hoa Kỳ, Australia).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận giới hạn phạm vi nghiên cứu dưới góc độ Luật Kinh tế và đánh giá các quy phạm thực định của Việt Nam đối với thị trường giao dịch hàng hóa tập trung, không phân tích khía cạnh thủ tục xử phạt vi phạm hành chính hay tố tụng giải quyết tranh chấp tư pháp. Do tính chất của một khóa luận cử nhân luật học, các số liệu thực tiễn chủ yếu được trích xuất qua các báo cáo thứ cấp và nghiên cứu điển hình từ một số sàn giao dịch (BCCE, Cangio ATC, MXV) mà chưa khảo sát định lượng sâu rộng về toàn bộ dữ liệu giao dịch thực tế của thị trường.
Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng vào việc thiết kế khung pháp lý chi tiết điều chỉnh hoạt động bù trừ đối tác trung tâm (CCP) tại TTTTBT, hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại phái sinh xuyên biên giới và xây dựng dự thảo quy chế hoạt động cho Ủy ban quản lý hàng hóa phái sinh chuyên trách tại Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế và ngành Tài chính - Ngân hàng khi nghiên cứu về chế định mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa. Đồng thời, tài liệu cung cấp luận cứ học thuật cho các chuyên viên pháp chế doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa xuất nhập khẩu, các công ty thành viên của SGDHH và các nhà hoạch định chính sách tham gia sửa đổi Luật Thương mại năm 2005.
Nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất nằm ở Chương 2, cụ thể là các tiểu mục phân tích điều kiện pháp lý thành lập SGDHH, phân định quyền nghĩa vụ giữa TVKD và TVMG, cũng như sự so sánh chi tiết giữa HĐKH, HĐQC trong LTM năm 2005 với luật pháp của Singapore, Canada và Thái Lan.
Câu hỏi thường gặp
1. Mức vốn điều lệ tối thiểu được pháp luật quy định đối với Sở giao dịch hàng hóa, Thành viên kinh doanh và Thành viên môi giới là bao nhiêu?
Căn cứ Điều 8, Điều 19 và Điều 22 VBHN số 15/VBHN-BCT, mức vốn điều lệ tối thiểu đối với Sở giao dịch hàng hóa là từ 150 tỷ đồng trở lên; đối với Thành viên kinh doanh là từ 75 tỷ đồng trở lên; và đối với Thành viên môi giới là từ 5 tỷ đồng trở lên.
2. Điểm bất cập lớn nhất trong quy định về Thành viên kinh doanh được tác giả chỉ ra là gì?
Khoản 1 Điều 22 VBHN số 15/VBHN-BCT cho phép TVKD vừa được tự doanh vừa được nhận ủy thác MBHH từ khách hàng, kết hợp với Điều 161 LTM năm 2005 cho phép bên nhận ủy thác được nhận ủy thác của nhiều bên. Điều này tạo kẽ hở cho TVKD có thể nhận các lệnh giao dịch đối ứng từ hai khách hàng khác nhau hoặc tự đặt lệnh đối ứng với chính khách hàng ủy thác của mình, tiềm ẩn nguy cơ trục lợi và gây thiệt hại cho nhà đầu tư.
3. Khái niệm Hợp đồng kỳ hạn theo Luật Thương mại năm 2005 có điểm gì hạn chế so với luật pháp Singapore?
Luật Thương mại năm 2005 mới chỉ nhìn nhận HĐKH dưới góc độ giao dịch hướng tới việc giao nhận hàng hóa thực tế trong tương lai. Ngược lại, Luật MBHH tương lai Singapore (sửa đổi 2007) đã dự liệu cả hai trường hợp: giao dịch hàng thực và giao dịch phái sinh thuần túy, cho phép các bên chịu trách nhiệm bằng cách bù trừ phần chênh lệch giá giữa thời điểm lập hợp đồng và thời điểm đáo hạn mà không bắt buộc chuyển giao hàng hóa vật chất.
4. Cơ quan nào chịu trách nhiệm chính trong việc quản lý nhà nước đối với hoạt động MBHH qua SGDHH tại Việt Nam?
Theo Điều 4 VBHN số 15/VBHN-BCT, Bộ Công Thương chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hoạt động MBHH qua SGDHH; đồng thời phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các Bộ, cơ quan ngang Bộ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong việc thẩm tra, cấp phép và giám sát hoạt động.
5. Nghị định số 51/2018/NĐ-CP đã sửa đổi những nội dung trọng yếu nào so với Nghị định số 158/2006/NĐ-CP về điều kiện thành lập SGDHH?
Nghị định số 51/2018/NĐ-CP đã mở rộng loại hình tổ chức của SGDHH thành doanh nghiệp nói chung (gồm 4 loại hình theo Luật Doanh nghiệp thay vì chỉ TNHH và Cổ phần); chuyển thuật ngữ "vốn pháp định" thành "vốn điều lệ"; lược bỏ tiêu chuẩn riêng về Giám đốc/Tổng giám đốc; đồng thời bổ sung điều kiện bắt buộc về hệ thống công nghệ thông tin đáp ứng các giải pháp kỹ thuật giao dịch.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Tô Thị Ngân đã phân tích có hệ thống khung pháp lý điều chỉnh hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa tại Việt Nam trên cơ sở đối chiếu Luật Thương mại năm 2005, Nghị định số 51/2018/NĐ-CP và kinh nghiệm lập pháp quốc tế. Công trình chỉ rõ những bất cập nội tại về địa vị pháp lý của các loại thành viên, sự thiếu hụt quy chế phái sinh tài chính của hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng quyền chọn và sự phân tán trong cơ chế quản lý nhà nước liên bộ. Các giải pháp hoàn thiện quy phạm và định hướng thành lập cơ quan quản lý chuyên biệt được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ học thuật hữu ích cho tiến trình cải cách pháp luật thương mại Việt Nam.