CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN CHUNG VE HÌNH THUC CUA DI CHUC TRONG PHAP LUAT DAN SU 1. Khai niệm di chúc và hình thức của di chúc 1.1 Khai niệm di chúc Thuật ngữ di chúc được đề cập và sử dụng nhiều trong đời song nên từ lau da trở thành một van dé hết sức quen thuộc đối với nhân dân với nhiều tên gọi khác nhau như: chúc thư, chúc ngôn, tờ tương phân, lời dặn. và do đó, khái niệm di chúc được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau. Về mặt ngữ nghĩa, theo Từ điển tiếng Việt, di chúc được hiểu là /ời đặn lại trước khi chết những việc người sau cân làm và nên làm' hay "là văn bản chính thức ghi những ý muốn của một người, đặc biệt là xử lý những tài sản của minh sau khi chét"’.
Như vậy, về mặt ngữ nghĩa có thể hiểu, di chúc là ý nguyện của cá nhân muốn người khác thực hiện ý nguyện của mình sau khi mình chết, đó có thể là lời đặn con cháu yêu thương lẫn nhau, hoặc đặn con cháu làm một công việc gì đó. Dưới góc độ khoa học pháp lý, khái niệm di chúc cũng đã được hình thành từ rất sớm. Theo Ulpian - một luật gia La Mã nỗi tiếng thì: "Di chúc là sự thể hiện ý chí của chúng ta và ý chí đó được thực hiện sau khi chúng ta chết "3 Như vậy, dưới thời La Mã, di chúc đã được hiểu là phương tiện dé thé hiện ý chí của người lập ra nó và di chúc có hiệu lực khi người lập ra nó chết đi. Theo pháp luật Anh — Mỹ, thì di chúc được hiểu "/a một phương tiện mà một người sử dụng để định đoạt tài sản của mình và chỉ có hiệu lực sau khi người đó chết, với bản chất là có thể được thay đổi hoặc hủy bỏ trong suốt thời gian mà người lập di chúc còn sông "* Theo BLDS của Cộng hòa Pháp thì: "Di chúc là một chứng thư, theo đó người dé lại di chúc định đoạt sau khi chết một phần hoặc toàn bộ tài sản của nộ mình, người đó có thể hủúy bỏ di chic".
Tương tự như vậy, mặc dù trong Bộ luật Dân ' Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phô thông, Nxb Da Nẵng, tr. 254 * Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển tiếng Việt phổ thông, Nxb Da Nang, tr. 182 3 Trích dẫn theo bài viết Quyền thừa kế trong luật La Mã cổ đại của T.S Nguyễn Đình Huy đăng trên Tạp chí Khoa học pháp lý số 04/2001 của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh. * Cavendish Law — Cards, Succession Ist Edition, Nxb Cavendish London, 1997, PI, tr.
Dẫn theo Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2013), Giáo trình pháp luật về tài sản, quyền sở hữu tài sản và quyền thừa kế, Nxb Hồng Đức — Hội Luật gia Việt Nam, Hà Nội, tr. 210 > Điều 895 Bộ luật Dân sự Pháp sự và Thương mại Thái Lan không trực tiếp nêu ra khái niệm di chúc nhưng đã gián tiếp định nghĩa di chúc thông qua quy định về quyền của người để lại thừa kế trong VIỆC "gial quyết" tài sản của mình sau khi chết, cụ thể Điều 1646 Bộ luật Dân sự và Thương mại Thái Lan quy định: "Bá kỳ người nào có thé, trước khi chết, làm một tuyên bô ý định bằng di chúc về giải quyết tài sản của mình, hoặc những vấn dé khác mà sẽ có hiệu lực theo quy định của pháp luật sau khi người đó chết". Ở Việt Nam, theo tác giả Đoàn Bá Lộc thì di chúc hay chúc thư "/à một văn tw lập theo các thể thức pháp định dé chung chắc sự thật và do đó một người để lại cho người thừa kế biết ý định mai hậu của minh"’. Theo các tác giả của cuỗn Bình luận khoa học BLDS 2005 (Tập IID) thì: "Di chúc là sự bày tỏ ý chi của một người khi con sống định đoạt tài sản của mình, dé chuyển toàn bộ hoặc một phần tài sản của người do cho một hay nhiễu người thừa kế sau khi chết”.
Trong pháp luật thực định của Việt Nam, di chúc là một giao dịch dân sự dưới dạng hành vi pháp lý đơn phương, theo đó, Điều 624 BLDS 2015 (Điều 646 BLDS 2005) quy định: "Di chúc là sự thể hiện ý chi của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết"Š. Tương tự như vậy thì khái niệm về di chúc cũng đã được luận giải trong giáo trình của trường Đại học Luật Hà Nội hầu như không có sự khác biệt so với trong BLDS 2005: “Di chúc là sự thể hiện y chi của cả nhân nhằm dich chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết ”. Các khái niệm trên hoặc không thể hiện rõ những đối tượng được hưởng thừa kế theo di chúc hoặc nếu có thì cũng chỉ đưa ra những thuật ngữ chung chung như người khác hay người thừa kế. Vậy người khác ở đây được hiểu chỉ bao gồm cá nhân hay bao gồm cả cơ quan, tổ chức và thậm chí là cả Nhà nước? Người thừa kế ở đây được hiểu là những người thuộc hàng và diện thừa kế theo pháp luật hay là rộng hơn? Từ những phân tích trên, có thể rút ra một khái niệm đầy đủ về di chúc như sau: Di chúc là sự thể hiện y chi cua một người lúc còn sống nhằm định đoạt toàn bộ hoặc một phan tài sản cua minh cho ca nhân, cơ quan, tô chức sau khi chết trên nguyên tắc tôn trọng ý nguyện và thé hiện trung thực ý nguyện của người dé lại di ° Đoàn Bá Lộc (1961), Dân luật thực hành, Soạn giả xuất bản 4P, Đường Hùng Vương, Thị Nghè - Gia Định, tr.
133 7 Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) (2010), Bình luận khoa học BLDS 2005, Tập III, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 45 ‹ ; * Khái niệm về di chúc trong BLDS 2015 không có gì khác biệt so với khái niệm về di chúc quy định tại Điều 649 BLDS 2005 sản, theo các quy định của pháp luật và di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người để lại di sản chết. Từ khái niệm trên có thể thấy, di chúc có một số đặc trưng sau: Tư nhất, di chúc là ý chí đơn phương của cá nhân. Di chúc là “sự thé hiện ý chí của cá nhân” (Điều 624 BLDS 2015) nên nó được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của người dé lại thừa kế (một bên chủ thé trong quan hệ giao dich dân sự về thừa kế).
Qua việc lập di chúc, cá nhân có ý định làm xác lập một giao dịch dân sự về thừa kế. Theo đó họ quyết định chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản của mình hay không. Như vậy, nếu hợp đồng (giao dịch hai bên) được hình thành bởi sự thỏa thuận ý chí của nhiều bên chủ thể thì di chúc chỉ là sự quyết định đơn phương của người lập ra nó”. Thứ hai, di chúc nhằm dịch chuyển di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc.
Đây là nội dung quan trọng không thé thiếu được của một di chúc néu muốn được coi là một căn cứ dé dịch chuyên tai sản của người chết cho những người khác. Thông thường, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có một khối tài sản trước khi chết và muốn băng ý chí của mình để định đoạt cho ai. Mặt khác, cho dù trước lúc chết, người đó có một khối tài sản và cũng để lại di chúc nhưng nếu di chúc không chứa đựng nội dung này thì cũng không làm phát sinh việc thừa kế theo di chúc. Nghĩa là di chúc đó chăng có ý nghĩa gì đối với quá trình dịch chuyển di sản.
Nói cách khác, di chúc chỉ đem lại ý nghĩa về mặt vật chất cho những người thừa kế theo di chúc đồng thời chi thật sự là một phương tiện dé người dé lại thừa kế thực hiện quyền định đoạt đối với tài sản của minh chừng nào di chúc chứa đựng nội dung trên. Thứ ba, dị chúc là loại giao dịch dân sự chỉ có hiệu lực khi chính người lập ra di chúc đã chết. Như đã trình bày ở trên, việc lập di chúc và việc giao kết hợp đồng đều là những giao dịch dân sự. Tuy nhiên, nếu hợp đồng dân sự thé hiện ý chí của cả hai bên chủ thể thì di chúc chỉ thể hiện ý chí của một bên.
Sự khác nhau này làm cho một di chúc có tính chất khác hắn với một hợp đồng dân sự. Nếu hợp đồng dân sự có hiệu lực từ thời điểm giao kết (trừ trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy ? Phạm Văn Tuyết, Lê Kim Giang (2013), Pháp luật về thừa kế và thực tiễn giải quyết tranh chấp, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 125-128 10 định khác) thì thời điểm bắt đầu có hiệu lực của di chúc hoàn toàn phụ thuộc vào thời điểm người lập ra di chúc chết. Khoản 1 Điều 643 BLDS 2015 (Khoản 1 Điều 667 BLDS 2005) quy định: “Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế”.
Nói ngược lai, khi người lập di chúc còn sống thì di chúc chưa có hiệu lực. Mặt khác, di chúc chỉ là ý chí đơn phương của người lập ra nó nên người lập di chúc luôn luôn có quyền tự mình thay đổi nội dung đã định đoạt trong di chúc hoặc hủy bỏ di chúc đã lập và thay thế băng di chúc khác. Tính chất nay cho chúng ta thấy, dù di chúc đã được lập nhưng khi người lập di chúc còn sống (trong thực tế, từ thời điểm di chúc đã lập đến thời điểm người lập di chúc chết bao giờ cũng có một khoảng cách nhất định về mặt thời gian) thì người thừa kế theo di chúc không có bat kỳ một quyền nao đối với tài sản của người lập di chúc và họ cũng chưa chắc chắn có được hưởng di sản đó hay không. Pháp luật tôn trọng quyền lập di chúc của cá nhân với hai mục đích.
Một mặt, nhằm đảm bảo cho cá nhân thông qua việc định đoạt tài sản của mình dé thé hiện tinh cảm, trách nhiệm của minh đối với người khác. Vi vậy, nếu sự định đoạt trong di chúc đã lập không còn phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh hiện tại thì người lập di chúc có quyền sửa đồi, bố sung, hoặc hủy bỏ di chúc và thay thé bang di chúc khác. Thứ tr, di chúc là một giao dịch pháp lý trọng hình thức.