chương 1, tác giả có phân tích và chỉ rõ những hạn chế đối với các cách tiếp cận biện pháp thế chấp dưới giác độ vật quyền bảo đảm hoặc một quan hệ trái quyền thuần tuý (tr. + Trong bài viết “Hoàn thiện các quy định về quản lý và xử lý tài sản thé chấp ”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp điện tử tháng 1/2015. Tác giả Nguyễn Ngọc Điện đã chỉ ra những giải pháp cho pháp luật thực định Việt Nam: “về mặt lý luận, cần áp dụng lý thuyết vật quyền bảo đảm làm nền tảng xây dựng các quy định về biện pháp bảo đảm trong Bộ luật dân sự”. Từ đó sẽ khắc phục được những bat cập trong quá trình xử lý tai sản bao đảm trên thực tế.
+ Trong dé tài khoa học “Bảo đảm tiên vay của các tô chức tin dụng bằng thế chấp bắt động sản theo quy định của pháp luật hiện hành”, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2017. Tác giả đã tiếp cận thế chấp tài sản dưới giác độ là một hợp đồng. Hợp đồng thé chấp là một biện pháp chứa dung cả yếu tố trái quyền và yếu tô vật quyền, chúng hỗ trợ cho nhau dé thực hiện tốt nhất chức năng bảo đảm của mình. Trên cơ sở hợp đồng thế chấp được xác lập (quan hệ có tính trái quyền), bên nhận thế chấp hoàn thiện quyền của mình trên tài san thé chấp dé có quyên truy đòi và ưu tiên thanh toán (tr.
Về doi twong của biện pháp thé chap + Trong luận án tiễn sĩ “Bảo đảm thực hiện hop dong tin dụng ngân hang bằng thé chấp tài sản”, Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2004. Tác giả Nguyễn Văn Hoạt cho răng, “khi xác lập quan hệ thế chấp, các bên hướng tới và quan tâm không chỉ là bên thế chấp có quyền sử dụng đất hay không (cũng như bên thế chấp có quyền sở hữu đối với tài sản hay không) mà là giá trị của quyền sử dụng đất (cũng như là giá trị của tài sản thế chấp nói chung)” (tr. 12 + Trong bài viết “Di tim triết lý thé chấp quyên tài sản trong pháp luật Việt Nam”, Tạp chí Ngân hàng số 7 tháng 4/2012 của tác giả Nguyễn Đức Giang. Liên quan đến các quyên tài sản là đối tượng của các giao dich bao đảm, tác giả viết “Nhìn vào danh sách này có thể thấy có ba mảng quyên tai sản chính là quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng), quyền phát sinh từ hợp đồng (bao gồm cả quyên đòi nợ và quyền được nhận số tiền bảo hiểm vì thực chất các quyền này cũng phát sinh từ các hợp đồng) và phần vốn góp”.
Về điều kiện của tài sản thế chấp + Trong luận án tiễn sĩ “Bảo dam thực hiện hợp đồng tin dụng ngân hàng bằng thế chấp tài sản”, Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2004. Tác giả Nguyễn Văn Hoạt đã nêu ra 04 điều kiện của tai sản thế chấp nói chung, bao gồm: (i) phải thuộc quyền sở hữu hoặc thuộc quyền sử dụng, quan lý của khách hàng vay; (1) phải là tài sản được phép giao dịch; (11) không có tranh chap; (iv) phải mua bảo hiểm nếu pháp luật có quy định. + Trong cuén “Hợp đồng tin dung và biện pháp bảo đảm tién vay”, Nxb Tư pháp, năm 2012, của tập thể tác giả Phạm văn Tuyết và Lê Kim Giang. Tại tiểu mục 3.
chương 2 có trình bày về đặc điểm của tài sản bao đảm tiền vay, theo đó tài sản bảo đảm tiền vay phải đáp ứng được các điều kiện sau: phải xác định được; có thê trị giá được thành tiền; tài sản bảo đảm phải được phép chuyên giao trong giao dịch dân sự; tài sản bao đảm phải thuộc sở hữu của bên bảo đảm — chỉ bắt buộc đối với bên bảo đảm là cá nhân hoặc doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà không áp dụng đối với doanh nghiệp nhà nước. Về đăng ký thé chấp quyên tài sản + Trong bài viết “Giao dịch bảo đảm dưới khía cạnh luật so sánh”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật điện tử, tháng 2/2016, tập thê tác giả Lê Thị Thu Thuy và D6 Minh Tuân có nhận xét: “Luật mau EBRD đưa ra ba phương thức xác lập hiệu lực của một GDBĐ: (1) Đăng ky: Các bên giao kết hợp đồng bao đảm (charging instrument). Trong thời hạn 30 ngày kế từ ngày giao 13 kết hợp đồng bảo đảm, phải làm thủ tục đăng ký GDBĐ (nộp bản đăng ký GDBD tại cơ quan có thâm quyền); (2) Chiếm hữu: Các bên giao kết hop đồng bảo đảm (charging instrument) và bên nhận bảo đảm cầm giữ tài sản bao đảm; (3) Bảo lưu quyền sở hữu tài sản: Bên bán nam giữ quyền sở hữu tai sản cho đến khi bên mua thanh toán đủ tiền. Bên cạnh đó Pháp luật Mỹ đưa ra các phương thức “hoàn thiện GDBĐ” là: Đăng ký GDBĐ, chiếm hiru/kiém soát tài sản bảo đảm, và GDBĐ tự động hoàn thiện áp dụng cho một số tài sản bảo đảm nhất định.
+ Trong cuỗn “Problems and Materials on secured transactions”, Douglas J. Whaley, Professor of Law Emeritus The Ohio State University and Stephen M. Mcjohn, Professor of Law Suffolk University Law School, (2010). Tác giả có đề cập đến việc hoàn thiện quyền của bên nhận thé chap (điều kiện quyền thé chấp có giá trị đối với người thứ ba).
Theo đó, có 04 cách dé hoàn thiện quyền bảo đảm: (i) Nộp đơn đăng ký quyền thé chap; (ii) Chiém giữ vật chất đối với tài sản (thường áp dụng đối với biện pháp cam cô); (iii) Không cần nộp đơn đăng ký hay chiếm giữ tai sản mà chỉ cần ghi rõ quyên thé chấp trên giấy tờ sở hữu của tai sản thé chấp như giấy đăng ký sở hữu và lưu hành phương tiện giao thông: (iv) Tiến hành kiểm tra đối với tai sản thế chấp. Về xử lý tài sản thế chấp + Trong bài viết “Giao dịch bảo đảm dưới khía cạnh so sánh luật học ”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật điện tử, tháng 2/2016, tập thể tác giả Lê Thị Thu Thuỷ và Đỗ Minh Tuấn đã chỉ ra hạn chế của pháp luật liên quan đến xử ly tài sản bảo đảm: việc xử ly tài sản bảo đảm ở Việt Nam hiện nay có thé được bán thông qua bán đấu giá hoặc bán đơn lẻ theo giá thỏa thuận. Tuy nhiên, về mặt thực tiễn, việc xử lý tài sản bảo đảm thông qua bán dau gia hoặc ban đơn lẻ thực sự gặp khó khan nếu như bên bảo đảm không hợp tác. Do đó, nhiều chủ nợ phải lựa chọn việc khởi kiện ra Tòa án dé yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm.
14 + Trong bài viết “Thanh lý tài sản thé chấp trong Luật Dân sự Pháp theo quy định của Đạo luật ngày 23/3/2006”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp điện tử, tháng 4 năm 2007, tác giả Nguyễn Ngọc Điện có trình bày về các biện pháp xử lý tài sản bảo đảm theo đạo luật ngày 23/03/2006 của Pháp. Theo đó, có các cách thức xử lý tài sản bảo đảm: bán tài sản bảo đảm; nhận tài sản bảo đảm thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ; thỏa thuận nhận tai sản bao đảm dé trừ nợ. Đối với phương thức bán tài sản bảo đảm có thể được thực hiện bang hai hình thức, dàn xếp bán tai sản bảo đảm với sự cho phép của Toà án hoặc ban đấu giá tài sản bảo đảm. Pháp luật của Pháp cam việc bán tài sản theo thỏa thuận của các bên.
Việc cam này xuất phát từ sự e ngại rằng, một sự dan xếp bán như vậy có thé dẫn đến tình trạng tài sản được bán với giá thấp hon so với gia trị thực tẾ của nó. Về xác định thir tự wu tiên thanh toán khi xử lý tài sản thé chap + Trong bài viết “Vat quyén bảo đảm-những vấn dé pháp lý đặt ra trong quá trình hoàn thiện pháp luật dan sự của nước ta”, Tạp chí Dan chủ và Pháp luật, năm 2011, tác giả Hồ Quang Huy cho rằng BLDS năm 2005 mới chỉ giải quyết van dé thứ tự ưu tiên thanh toán giữa các giao dich bảo đảm, chưa giải quyết van đề về xác định thứ tự ưu tiên thanh toán giữa bên nhận bảo đảm với các chủ thể khác có quyền và lợi ích liên quan đến tài sản bảo đảm như quyền của người lao động, bên cho vay tiền để mua tài sản bảo đảm. + Trong bài viết “Giao dịch bảo đảm dưới khía cạnh luật so sánh”, Tạp chí Nghiên cứu pháp luật điện tử, tác giả Lê Thị Thu Thuỷ, Đỗ Minh Tuấn đã chỉ ra trên thế giới ngoài quy tắc thứ tự về thời gian và quy tắc ưu tiên đăng ký, pháp luật một số nước còn quy định quy tắc chiếm hữu, kiểm soát tài sản bảo đảm để xác định thứ tự ưu tiên. Hệ thống các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của luận án 3.
Những vấn đề luận án kế thừa Trong quá trình thực hiện đề tài luận án, tác giả sẽ kế thừa các kết quả nghiên cứu như: 15 - Một số học thuyết pháp lý như: học thuyết trái quyền, học thuyết vật quyên, học thuyết quyền sở hữu, học thuyết giữ tai sản thé chấp; - Một số van dé lý luận về tài sản, quyền tài sản, thế chấp tài sản; - Tham khảo kết quả nghiên cứu về một số khía cạnh liên quan đến thế chấp quyền tài sản như: thế chấp quyền sử dụng đất, thé chấp quyền đòi nợ, thế chấp bất động sản. - Tham khảo kết quả nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng về thế chấp quyền sử dụng đất, thế chấp bất động sản, thế chấp quyền tài sản hình thành từ hợp đồng mua bán nhà ở. Những vấn đề luận án tiếp tục nghiên cứu 3. Vẻ lý luận Thứ nhất, luận án sẽ tiếp tục nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống lý luận vẻ thế chấp quyền tai sản.
Thứ hai, luận án sẽ xây dựng khái niệm quyền tài sản, thé chấp quyền tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; làm sáng tỏ các đặc điểm của quyền tài sản nói chung, phân loại các quyên tài sản theo quy định pháp luật Việt Nam từ đó chỉ ra các đặc điểm pháp lý của quyên tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp. Thi ba, luận án sẽ trình bày một cách sơ lược quy định của pháp luật Việt Nam về thế chấp quyền tài sản.