Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 1. Khái niệm chung về hợp đồng vay tài sản 1. Định nghĩa hợp đồng vay tài sản Trong nền kinh tế thị trường, mọi hoạt động đều được tiền tệ hoá. Do vậy, mỗi chủ thể phải có một nguồn vốn nhằm thoả mãn nhu cầu của mình và tự chủ trong việc sử dụng nguồn vốn đó.
Tuy nhiên, không phải lúc nào nhu cầu về vốn cũng được đáp ứng đầy đủ. Sự không ăn khớp giữa nguồn vốn và sử dụng vốn của mỗi chủ thể trong xã hội dẫn đến tình trạng thừa hoặc thiếu vốn. Vấn đề đặt ra lúc này là nhu cầu giao lưu vốn xuất hiện. Hợp đồng vay tài sản ra đời để giải quyết nhu cầu này.
Nhà nước đã tạo điều kiện cho nhân dân vay vốn của ngân hàng với mức lãi suất phù hợp, các hộ nông dân nghèo có thể phát triển được sản xuất kinh doanh. Mặt khác, nhân dân vay, mượn tài sản của nhau để tiêu dùng cho những việc cần thiết trong gia đình hoặc để kinh doanh là việc làm phổ biến và có ý nghĩa cần được Nhà nước khuyến khích. Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mối quan hệ xã hội nói chung và quan hệ pháp luật nói riêng. Trong khoa học pháp lý hiện đại, có nhiều cách tiếp cận về tài sản.
Theo quy định của Cộng Hoà Pháp, “Tất cả tài sản là động sản hoặc bất động sản”. Từ quy định này có thể nhận thấy, pháp luật của Cộng hoà Pháp không đưa ra một định nghĩa cụ thể về tài sản mà tiếp cận thuật ngữ này gián tiếp thông qua hai “tiểu khái niệm” là “động sản” và “bất động sản”. Nội hàm của khái niệm “tài sản” trong pháp luật của Cộng hoà Pháp xoay quanh hai khái niệm: “động sản” và “bất động sản”. Trong pháp luật Việt Nam, Điều 163 BLDS năm 2005 quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”.
Đến BLDS năm 2015, quy định về tài sản có chút ít thay đổi theo đó: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có 6 luan an giá và quyền tài sản”. Đây không phải là một định nghĩa hoàn chỉnh về tài sản, nhà làm luật đang cố gắng liệt kê tất cả các dạng tồn tại của tài sản trong đời sống xã hội. Việc liệt kê các dạng tồn tại của tài sản này có thể dẫn đến tình trạng bỏ sót một số tài sản đang hiện hữu trong thực tiễn cuộc sống, đồng thời không chỉ rõ được các đặc tính pháp lý cơ bản để nhận diện tài sản. Nghiên cứu quy định về tài sản trong Chương VII, BLDS năm 2015.Có thể nhận thấy, mặc dù Điều 105 có nhắc đến tiền và giấy tờ có giá với tính chất là một loại tài sản luật định tuy nhiên cả Chương VII hoàn toàn không có quy định giải nghĩa hai loại tài sản này.
Việc nhà lập pháp ghi nhận “quyền tài sản” duy nhất ở một điều luật (Điều 115) trong BLDS năm 2015 và chỉ đưa ra được một tiêu chí nhận diện quyền tài sản – “phải trị giá được bằng tiền” là chưa làm rõ được nội hàm khái niệm quyền tài sản. Khi đối chiếu vào điều 107 BLDS năm 2015 không thể xác định được quyền tài sản là động sản hay bất động sản. Theo quy định tài Điều 105 BLDS năm 2015, tài sản có thể là vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản. Vật với tư cách là tài sản được hiểu là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao gồm cả động vật, thực vật, và tồn tại ở mọi trạng thái (rắn, lỏng, khí).
Tuy nhiên, để được coi là tài sản thì vật cũng phải thỏa mãn được những đặc điểm của tài sản đã nêu ở trên. Ví dụ: nước trong một dòng sông, không khí ngoài khí quyển không thể nằm trong sự kiểm soát, chi phối của con người, do đó mặc dù cũng được coi là đối tượng tồn tại trong thế giới vật chất nhưng chúng không được xem xét với tư cách là tài sản. Khi nước được đóng vào chai, không khí được nén vào bình, con người có thể thực hiện việc kiểm soát, chi phối chúng, khi đó nước và không khí lại được coi là tài sản (tồn tại dưới dạng vật). 7 luan an Tài sản là tiền.
Tiền có chức năng trao đổi ngang giá với những loại tài sản khác. Tiền do Ngân hàng Nhà nước độc quyền phát hành và được hiểu là Việt Nam đồng. Giá trị của tiền được thể hiện ở mệnh giá trên chính đồng tiền đó. Tiền giữ chủ quyền quốc gia, có giá trị sử dụng ổn định và được sử dụng rộng rãi trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
Bên cạnh chức năng trao đổi, tiền còn có chức năng dự trữ và thanh toán trên thị trường. Bên cạnh những đồng tiền Việt Nam thì những ngoại tệ như USD, bảng Anh… cũng là tài sản tại dưới dạng tiền, tuy nhiên chúng thuộc nhóm tài sản hạn chế lưu thông. Tài sản là giấy tờ có giá. Giấy tờ có giá được hiểu là những giấy tờ trị giá được thành tiền và có thể chuyển giao được trong giao dịch dân sự.
BLDS 2015 không có quy phạm pháp luật quy định về giấy tờ có giá mà quy định về loại tài sản này nằm Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22/02/2012 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010, Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005, Luật Chứng khoán năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2010)… Theo đó có các loại giấy tờ có giá bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kì phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ ký quỹ… Tài sản dưới dạng quyền tài sản. Quyền tài sản được quy định cụ thể tại Điều 115 BLDS năm 2015. Theo đó quyền tài sản được hiểu là quyền có thể trị giá được thành tiền, và chuyển giao được trong giao dịch dân sự. Quyền tài sản bao gồm quyền đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất, hoặc một số quyền tài sản khác như: quyền đòi nợ, quyền yêu cầu chi trả khoản tiền bảo hiểm phát sinh từ hợp đồng bảo hiểm.
Căn cứ vào cách thức thực hiện quyền của chủ thể, quyền tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể được chia làm hai nhóm, quyền đối vật và quyền đối nhân. Trong quan niệm của người La-tinh, khối tài sản có của một người được tạo thành từ hai loại quyền: Quyền đối vật – tức là các quyền được thực hiện trên các vật cụ 8 luan an thể và xác định; quyền đối nhân – bao gồm các quyền tương ứng với các nghĩa vụ tài sản mà người khác phải thực hiện vì lợi ích của người có quyền. Hiểu một cách khái quát, quyền đối vật là quyền của chủ thể được thực hiện các hành vi trực tiếp trên những vật cụ thể mà không cần sự cho phép hay hợp tác của các chủ thể khác. Các quyền tài sản thể hiện dưới dạng quyền đối vật trong Bộ luật Dân sự năm 2015 có thể kể đến là quyền sở hữu, quyền hưởng dụng, quyền bề mặt, quyền đối với bất động sản liền kề; quyền của bên bảo đảm đối với tài sản bảo đảm… Đối lập với quyền đối vật là quyền đối nhân.
Quyền đối nhân được thiết lập trong mối quan hệ giữa hai người, hai chủ thể của quan hệ pháp luật. Có thể hiểu, quyền đối nhân là quyền cho phép một người yêu cầu một người khác đáp ứng đòi hỏi của mình nhằm thoả mãn một nhu cầu gắn liền với một lợi ích vật chất của mình. Mối quan hệ giữa hai người này còn gọi là quan hệ nghĩa vụ. Bản chất quyền đối nhân là quyền của chủ thể (chủ thể quyền) được yêu cầu một chủ thể khác (chủ thể có nghĩa vụ) phải thực hiện một hành vi nhất định, nói cách khác quyền của chủ thể quyền trong quan hệ nghĩa vụ chỉ được thỏa mãn thông qua hành vi thực hiện nghĩa vụ của chủ thể có nghĩa vụ.
Tiêu biểu cho các quyền tài sản dưới dạng quyền đối nhân theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 gồm quyền đòi nợ, quyền yêu cầu cấp dưỡng, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm… Từ điển Tiếng Việt giải nghĩa “vay” được hiểu là “nhận tiền hay vật gì của người khác để chi dùng trước với điều kiện sẽ trả tương đương hoặc có thêm phần lãi”. Như vậy, dưới góc độ là quan hệ xã hội, quan hệ vay tài sản phải có ít nhất hai chủ thể tham gia, được xác lập trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên, đối tượng của quan hệ là tiền hoặc vật bất kỳ. Về phương diện chủ quan, hợp đồng vay tài sản là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự 9 luan an trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thỏa thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Ngay từ thời La Mã cổ đại, hợp đồng vay tài sản đã trở thành một trong những hợp đồng thông dụng nhất của pháp luật về hợp đồng.
Luật của Justinian còn quy định: "Các bên trong hợp đồng vay tài sản cũng không được thỏa thuận về lãi suất theo kiểu lãi mẹ đẻ lãi con". Dưới chế độ cũ ở miền Nam Việt Nam, trong Bộ Dân luật Sài Gòn 1972, tại chương V: nói về khế ước vay mượn, Điều 1156 quy định: " Có hai loại khế ước vay mượn: 1. Vay mượn vật không bị tiêu thất vì sự hành dụng: đó là khế ước mượn dùng; 2. Vay mượn vật nếu đã dùng sẽ không còn nữa: đó là khế ước vay nợ " Tại Điều 1173, khế ước vay nợ được định nghĩa như sau: "Khế ước vay nợ là khế ước trong đó, một bên đương sự giao cho bên kia một số đồ vật sẽ bị tiêu thất do sự tiêu thụ, người vay khi tới hạn sẽ phải hoàn trả lại đúng số lượng, cùng loại, cùng hạng như đồ vật đã vay, mặc dầu đồ vật ấy có tăng giá hay sụt giá".
Trước đây, BLDS năm 2005 định nghĩa hợp đồng vay: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó, bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên cho vay phải hoàn trả cho bên vay vật cùng loại theo đúng số lượng, đúng chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.