mở đầu của Thông tư ghi rằng, “Trong khi chờ đợi BLLD quy định đầy da thâm quyền của Toà án nhân dân và thú tục xét xử những anh chấp lao động, Hội đồng Bộ trưởng đã ra quyết định sô 10/HĐBT ngày 14/01/1985 quy định chuyển sang Toà an nhân dân xét xử những việc sau đây, đã được cơ quan có thâm quyền xử lí nhưng đương sự còn khiếu nại hoặc không chịu bồi thường. 7 Lê Văn Tuân (2019), Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân từ thực tiễn xét xử tai Tòa án nhân dân tinh Hòa Bình, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.6-7 10 trình học nghề”Š. Bản chất của TCLD chưa được lột ta qua điều luật này nhưng đã có được sự giải thích rõ ràng hơn về nội hàm của nó. Đến năm 2006, khái niệm TCLD theo quy định tại BLLĐ 1994 được sửa đổi, bố sung như sau: “7ranh chấp lao động là những tranh chấp về quyền và lợi ích phát sinh trong quan hệ lao động giữa người lao động, tập thé lao động với người sử dụng lao động.
"” Kế thừa định nghĩa về TCLD trước đây, Quốc hội khoá XIII ban hành BLLĐ số 10/2012/QH13 thay thế BLLD 1994 và luật sửa đổi bổ sung BLLD 1994. Trong đó, TCLD được định nghĩa như sau: “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyên, nghĩa vụ và lợi ích phát sinh giữa các bên trong quan hệ lao động. Tranh chấp lao động bao gồm tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động và tranh chấp lao động tập thể giữa tập thé lao động với người sử dung lao động ”!“ Quy định trên khá hạn hẹp vì thực tiễn TCLD không chỉ xây ra giữa NLD với NSDLĐ mà còn có thé phát sinh giữa các chủ thé có liên quan đến QHLD. Qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, định nghĩa TCLD được quy định tại BLLD số 45/2019/QH14 ngày 20/11/2019 như sau “Tranh chấp lao động là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ, lợi ích phát sinh giữa các bên trong quá trình xác lập, thực hiện hoặc chấm dit quan hệ lao động; tranh chấp giữa các 16 chức đại diện người lao động với nhan; tranh chấp phát sinh từ quan hệ có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động”.
TCLĐ cá nhân là những tranh chấp phát sinh “giữa người lao động với người sử dụng lao động; giữa người lao động với doanh nghiệp, tô chức đưa người lao động di làm việc ở nước ngoài theo hợp dong; giữa người lao động thuê lại với người sử dụng lao động thuê lại, So với khái niệm cũ thì khái niệm mới này đã được mở rộng cả về phạm vi cũng như chủ thê. Như vậy, khái nệm TCLĐ và TCLD cá nhân ở Việt Nam hình thành muộn. Chỉ từ khi kinh tế Việt Nam chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường, khái niệm TCLD và TCLD cá nhân mới được định nghĩa và hoàn thiện, mở rộng nội hàm với sự ra đời của Pháp lệnh số 45 và các BLLĐ. Š Khoản 1 Điều 157 BLLĐ năm 1994 Ÿ Điều 1 Luật sô 74/2006/QH11 ngày 29/11/2006 19 Khoản 7 Điều 3 BLLĐ năm 2012 1 Khoản 1 Điều 179 BLLD năm 2019 11 1.2 Đặc điểm tranh chấp lao động cá nhân Thứ nhất, về chủ thê của tranh chấp lao động cá nhân Chủ thé của TCLD cá nhân là NLD và NSDLD.
Xét về chủ thé trong QHLD, QHLD có thé chia ra thành QHLD giữa cá nhân NLD với NSDLĐ và QHLD tập thé giữa đại điện tập thể NLD và NSDLD. Tuy nhiên, thuật ngữ cá nhân NLD không nên được hiểu rằng chỉ có 01 cá nhân NLĐ trong một vụ án TCLĐ cá nhân. Số lượng người tham gia chỉ là một trong các dau hiệu cơ bản, chỉ có ý nghĩa khi phù hợp với mục đích của người tham gia TCLĐ đó. TCLĐ cá nhân không mang tính tổ chức, không có quy mô, không phức tạp như TCLD tập thé, nó chỉ mang tính chất đơn lẻ, không có sự thống nhất ý chi và sự gắn kết giữa những NLD như trong TCLD tập thé, mỗi NLD chỉ quan tâm đến quyên lợi của bản thân minh”.
Thực tiễn cho thấy có trường hợp chỉ có một NLD đại diện cho tập thé lao động nhưng không được căn cứ vào sự tham gia của một NLD để kết luận đó là TCLĐ cá nhân. Ngược lại, khi có nhiều NLD tham gia vào TCLD thi cũng chưa chắc là TCLĐ tập thé. Ở Việt Nam, pháp luật ghi nhận một số chủ thể đặc biệt của TCLĐ, đó là các doanh nghiệp, tổ chức đưa NLĐ đi làm việc ở nước ngoai có thời han theo hợp đồng, NLĐ thuê lại với NSDLD thuê lại. nhưng một bên bao giờ cũng là cá nhân NLD.
Thứ hai, TCLĐ cá nhân xây ra giữa các bên có địa vị kinh tế pháp lý không ngang nhau, không tương xứng về lợi thế Trong các tranh chấp vẻ dân sự, các bên tham gia tranh chấp có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau, có quyền và nghĩa vụ đối nhau, độc lập với nhau về tô chức và tài sản. TCLĐ cá nhân là tranh chấp giữa các bên có địa vị kinh tế và pháp lý không ngang nhau, NLD thường ở vị thế yếu hơn do phụ thuộc vào yếu tố việc làm, được trả lương bởi NSDLD. Ngược lại, NSDLĐ có quyền thuê mướn, sử dung, quản lý, điều hành, giám sát NLĐ làm việc cho mình theo thoả thuận. Do có đặc quyền trong kinh tế nên NSDLD có xu hướng lạm dung quyền, đó là xu hướng chủ yếu dan đến xung đột.
NLĐ không có lợi thế trong QHLĐ nên thường phát sinh những hành động tự vệ bản năng, dẫn đến hình thành ý thức đấu tranh dé chống lạ NSDLD. Vi 12 Phạm Hồng Nhung (2017), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân từ thực tiễn tại Tòa án nhân dan quận Cầu Giấy, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.10 12 trí và quyển trong QHLĐ đã tạo nên lợi thế cho NSDLĐ trong quá trình giải quyết tranh chấp. Khi xác lập QHLĐ, các bên thỏa thuận với nhau những nội đung cơ bản về quyển và nghĩa vụ trong QHLD. Diễn biến việc thực hiện quyền, nghĩa vụ của các bên được phản ánh qua bộ máy quản lý, công cụ quan ly cua NSDLD.
Trong bối cảnh đó, nếu xảy ra tranh chấp, NSDLĐ có khả năng hoàn toàn dành thế chủ động vì họ nắm trong tay những chứng cứ thậm chí có thể tạo dựng những chứng cứ có lợi cho hol’. Con NLD sẽ có ít cơ hội dé lam sáng tỏ sự thật hơn khi cho rằng NSDLD có hành vi trái pháp luật hoặc vi phạm những thỏa thuận giữa hai bên. Thứ ba, về nội dung Nội dung của TCLD cá nhân liên quan đến quyền, lợi ích, nghĩa vụ của một cá nhân NLD hay một nhóm NLD và thường nảy sinh trên cơ sở HDLD. Khi các bên tham gia QHLD là họ đã xác lập quyền, nghĩa vụ của minh trong quan hệ đó, nghĩa vụ của người này là điều kiện dam bảo quyền của người kia và ngược lại.
Trong quá trình thực hiện QHLĐ, có nhiều lý do để các bên không thực hiện đúng. đầy đủ các quyền và nghĩa vụ đã được thống nhất từ ban dầu, dẫn đến tranh chấp giữa hai bên. Do đó, TCLD cá nhân thường phát sinh trong trường hợp có sự vi phạm pháp luật. 'Í Thứ tư, về sự tham gia của tổ chức Công đoàn Trong TCLD cá nhân, Công đoàn tham gia với vai trò bảo vệ quyên, lợi ích hợp pháp cho NLD.
Quyên và lợi ich của NLD được dam bảo khi QHLĐ diễn ra hài hòa trên cơ sở tôn trong lẫn nhau, tức là quyển lợi của NSDLD cũng phải được đảm bao. Nói cách khác, chức năng bảo vệ quyên va lợi ích hợp pháp đối với NLD của tổ chức công đoàn cần đặt trong mối quan hệ hợp tác và thiện chí với NSDLĐ, với tổ chức của NSDLĐ. Trong giải quyết TCLD, quyền tham gia của công đoàn được coi là một trong những nguyên tắc được pháp luật lao động ghi nhận tại Điều 180 BLLD năm 2019. Theo đó, công đoàn tham gia với tư cách là một chủ thể, một thành viên độc lập trực tiếp giải quyết TCLĐ.
Đối với TCLĐ cá nhân, Công đoàn tham gia với tư cách là người đại diện, bảo vệ quyền lợi cho NLĐ, không tham gia 3 Hà Thi Thanh Nga (2018), Giải quyết ranh chấp lao động cá nhân va tình hình thực hiện trên dia bàn thành phố Da Nẵng, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.15 4 Phạm Hồng Nhung (2017), Giải quyết tranh chấp lao động cá nhân từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân quân Cầu Giấy, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.10 13 với tư cách là một bên tranh chấp, trực tiếp yêu cầu NSDLĐ giải quyết quyên lợi của tập thé lao động như TCLD tập thé.2 Pháp luật về giải quyết tranh chấp lao động cá nhân 1.1 Khái niệm giải quyết tranh chấp lao động cá nhân Giải quyết tranh chấp là hoạt động diễn ra sau khi có tranh chấp, và đương nhiên, khi không có TCLD thì cũng không đặt ra vấn dé giải quyết TCLĐ. Khác với việc giải quyết tranh chấp dân sự hay thương mại, giải quyết TCLĐ cá nhân ngoài việc khôi phục những quyền và lợi ích hợp pháp của các bên còn nhằm củng cố và duy trì QHLĐ. Xét đến cùng, mặc dù mâu thuẫn, bất đồng, tranh chấp song các bên vẫn cần nhau dé đạt được mục đích của mình trong QHLĐ và hơn thế nữa, vấn dé duy trì QHLĐ đặc biệt có ý nghĩa với NLĐ. Vì vậy, giải quyết TCLĐ cá nhân còn nhăm giúp các bên én định QHLD, tạo điều kiện cho các bên của QHLD cùng hợp tác và phát triển.
Theo nghĩa hẹp, giải quyết TCLĐ cá nhân là việc các tổ chức, cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyên tiến hành những thủ tục luật định nhằm giải quyết tranh chấp phát sinh giữa cá nhân NLĐ với NSDLĐ về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ và lợi ích của hai bên trong QHLĐ, khôi phục các quyên và lợi ích hợp pháp đã bị xâm hại, xoá bỏ tinh trang bất bình, mâu thuẫn giữa NLD và NSDLĐ, duy trì và củng có QHLD, dam bảo sự ổn định trong sản xuất. Giải quyết TCLĐ cá nhân theo nghĩa rộng hơn là những hoạt động được tiến hành nhắm dàn xếp những bất 6n trong QHLD, với mục đích dé các bên có thé tiếp tục thực hiện QHLĐ một cách hài hòa. Sự dàn xếp này có thể do các bên tự thương lượng, thỏa thuận hay có sự tham gia của một chủ thể trung gian hoà giải, đưa ra phán quyết về các nội dung tranh chấp.