CHƯƠNG 1: CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA VẤN ĐỀ TRANH CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT CÁC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. KHÁI NIỆM VỀ HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 1. Định nghĩa hợp đồng tín dụng (HĐTD)3: HĐTD là một dạng cụ thể của hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự 2005. Trong hợp đồng được ghi nhận sự thỏa thuận của hai hay nhiều bên mà làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên.
Tuy nhiên, Hợp đồng tín dụng ngân hàng chỉ là trường hợp bên cho vay là các tổ chức tín dụng, mà chủ yếu là các ngân hàng là bên cho vay. HĐTD về bản chất là hợp đồng cho vay, theo đó ngân hàng là bên cho vay giao cho bên vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là hợp đồng dân sự là quan hệ mang tính thỏa thuận, tự định đạt giữa các bên. Trong các hợp đồng tín dụng, các bên tự nguyện thỏa thuận với nhau với lãi suất cho vay, lãi suất quá hạn cao và các bên còn thỏa thuận cả về lãi phạt vi phạm đối với phần lãi suất chậm trả.
Theo quy định tại Điều 468 BLDS năm 2015 quy định: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính Phủ, Ủy ban thường vụ Quốc Hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ hợp gần nhất. Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận quá lãi suất giới hạn quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực”.
Quy định này là quy định mới so với quy định của Bộ luật 3 Tham khảo tại Báo Công ty Luật Đại Việt: Hợp đồng tín dụng và thực tiễn 13 Dân sự năm 2005 nhằm khắc phục hạn chế việc áp dụng pháp luật trong thực tiễn chưa được thống nhất. Trong cụm từ “trường hợp luật khác có liên quan quy định khác” như vậy trong trường hợp khác có được đề cập đến các tổ chức tín dụng hay không vì theo quy định tại các khoản 2, 3 Điều 91 BLDS thì đã quy định về “lãi suất theo thỏa thuận”. Do đó, khi các bên giao dịch tham gia hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng thì các bên sẽ thỏa thuận với lãi suất như thế nào thì được pháp luật chấp nhận hay có bị vi phạm về lãi suất trong BLDS. Vì vậy, cần nên quy định rõ hơn trường hợp khác theo quy định Điều 468 BLDS cụ thể là đối với lãi suất thỏa thuận của các tổ chức tín dụng với khách hàng là tự do các bên thỏa thuận hay cần có giới hạn nhất định để đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên khi xảy ra tranh chấp.
Mặc dù giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống kinh tế và các tranh chấp phát sinh từ các hợp đồng tín dụng ngân hàng diễn ra ngày một nhiều và gây thiệt hại không nhỏ cho các chủ thể. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một văn bả pháp luật nào của nước ta khái niệm chính thức về hợp đồng tín dụng ngân hàng mà chỉ liệt kê những nội dung chủ yếu của hợp đồng tín dụng ngân hàng như: “1. Thoả thuận cho vay được lập thành văn bản, trong đó tối thiểu có các nội dung sau:a0 Tên, địa chỉ, mã số doanh nghiệp của tổ chức tín dụng cho vay; tên, địa chỉ, số giấy chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước hoặc hộ chiếu hoặc mã số doanh nghiệp của khách hàng; b) Số tiền cho vay, hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức; hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức dự phòng; hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoả thanh toàn, c) Mục đích sử dụng vốn vay; d) Đồng tiền cho vay; đ) Phương thức cho vay; e) Thời hạn cho vay: thời hạn cho vay duy trì hạn mức đối với trường hợp cho vay theo hạn mức, thời hạn, hiệu lực của hạn mức cho vay dự phòng đối với trường hợp cho vay theo hạn mức cho vay dự phòng, hoặc thời hạn duy trì hạn mức thấu chi đối với trường hợp cho vay theo hạn mức thấu chi trên tài khoản thanh toán; g) Lãi suất cho vay theo thoả thuận và mức lãi suất quy đổi theo tỷ lệ % trên năm tính theo số dư nợ cho vay thực tế đó theo quy định tại hoản 3 Điều 13 Thông tư này; nguyên tắc và các yếu tố xác định lãi suất, thời điểm xác định lãi suất cho vay có điều chỉnh; lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn; 14 lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả; loại phí liên quan đến khoản vay và mức phí áp dụng…”4 1. Nguyên tắc hợp đồng tín dụng: Các bên có quyền tự thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án không trái với đạo đức xã hội và theo quy định pháp luật.
Theo đó, khi giải quyết tranh chấp, trong quá trình hòa giải, Tòa án hòa giải để nhằm các bên thỏa thuận với nhau trong việc giải quyết vụ án ngay cả tại phiên tòa các bên vẫn có quyền hòa giải thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án mà không trái với nguyên tắc thỏa thuận. Nói tóm lại, có nhiều khái niệm về hợp đồng tín dụng nhưng có thể định nghĩa như sau: Hợp đồng tín dụng là sự thoả thuận bằng văn bản giữa một bên là tổ chức tín dụng (bên cho vay) với bên kia là tổ chức, cá nhân thoả mãn điều kiện luật định (bên đi vay), theo đó, bên cho vay cấp cho bên đi vay một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và trong thời hạn đã thoả thuận, hết thời hạn đó, bên đi vay phải hoàn trả gốc và lãi cho bên cho vay. Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN thì “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. Từ quy định này, nên có sự khác biệt rỏ rang khi so sánh với hợp đồng vay thông thường, đây là quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng và khách hàng tiềm ẩn nhiều rỉu ro cao nên hợp đồng tín dụng phải có những quy định về điều kiện chủ thể phải chặt chẽ, hình thức hợp đồng, thời hạn hợp đồng, mục đích sử dụng tiền vay và có lãi suất trên cơ sở hai bên có thoả thuận tính chấp pháp lý rang buộc bằng văn bản theo quy định pháp luật.
ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG Như phân tích về khái niệm hợp đồng tín dụng ở phần trên, trong một hợp đồng được ký kết phải có đầy đủ các nội dung đúng theo dự thoả thuận của các bên khi tham gia hợp đồng. Hợp đồng, với tư cách là một thuật ngữ pháp lý được hiểu là sự thoả thuận bằng lời nói hoặc văn bản hoặc bằng cách khác giữa hai hay nhiều chủ thể có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, nhằm xác lập, thay đổi hay 4 Trích quy định tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng (Sau đây gọi tắc là Thông tư số 39/2016/TT-NHNN) 15 chấm dứt các quyền và nghĩa vụ nhất định trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Với những định nghĩa về hợp đồng tín dụng nêu trên, có thể thấy ngoài những dấu hiệu chung của một loại hợp đồng, hợp đồng tín dụng còn có một số đặc điểm đặc trưng sau đây để phân biệt với các loại hợp đồng khác trong giao dịch dân sự và thương mại5: Thứ nhất: Một bên chủ thể tham gia hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tổ chức tín dụng có đủ điều kiện luật định với tư cách là bên cho vay. Còn chủ thể bên kia (bên vay) có thể là tổ chức, cá nhân thoả mãn những điều kiện vay vốn do pháp luật quy định.
Thứ hai: HĐTD ngân hàng phải được ký kết dưới hình thức văn bản. Thứ ba: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng là tiền (Bao gồm tiền mặt và bút tệ). Về nguyên tắc: Đối tượng của HĐTD bao giờ cũng phải là một số tiền xác định và phải được các bên thoả thuận ghi rỏ trong văn bản hợp đồng. Thứ tư: HĐTD phải được tuân thủ chặt chẽ về các nội dung bắt buộc, năng lực chủ thể của các bên tham gia quan hệ tín dụng, mục đích sử dụng vốn vay, giới hạn vốn vay, lãi suất vay và bảo đảm thực hiện hợp đồng Thứ năm: Về tính rủi ro: HĐTD vốn chứa đựng nguy cơ rủi ro rát lớn cho quyền lợi của bên cho vay.
Sở dĩ như vậy là vì theo cam kết trong HĐTD, bên cho vay chỉ có thể đòi tiền của bên vay sau một thời gian nhất định (Đến hết thời hạn hợp đồng). Nếu thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn. Vì thế mà các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng cũng thường xuyên xảy ra với số lượng và tỷ lệ lớn hơn so với đa số các loại hợp đồng khác. Thứ sáu: Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: trong HĐTD, nghĩa vụ chuyển giao tiền vay (nghĩa vụ giải ngân) của bên cho vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước, làm cơ sở, tiền đề cho việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của bên vay.
Do đo, chỉ khi nào bên cho vay chứng minh được rằng họ đã chuyển giao tiền vay theo đúng hợp đồng tín dụng cho bên vay thì khi đó họ với có quyền yêu cầu bên vay phải thực hiện các nghĩa vụ đối với mình (bao gồm các nghĩa vụ chính như 5 Tham khảo tại tác giả Luật Dương Gia, tại trang chủ “Tư vấn pháp luật” 16 sử dụng tiền vay đúng mục đích; nghĩa vụ hoàn trả tiền vay đúng hạn cả gốc và lãi…) Thứ bảy: HĐTD ngân hàng luôn nhằm mục đích sinh lợi.