Chương 1. Khai quát chung vé giả: quyết tranh chấp quyền đổi với nhãn. hiệu - Chương 2. Quy đính của pháp luật Việt Nam vé giải quyết tranh chấp quyển đối với nhãn hiệu và thực trạng, thực tiễn giải quyết tranh chấp quyển đối với nhẫn hiệu.
Kiến nghi giải pháp nông cao hiện quả giãi quyết tranh chap quyên đối với nhấn hiệu. KHÁI QUÁT CHUNG VE GIẢI QUYẾT TRANH CHAP QUYEN ĐỐI VỚI NHÂN HIEU 111. Khái niệm nhãn hiệu và quyền đối với nhãn hiệu LLL Kháiniệmnhấu hiệu Nhấn hiệu có mới liên hệ chặt chế với thương mai hàng hóa và dich vụ, gin với uy tin của doanh nghiệp và đương nhiền là gắn với cơ hội chiếm lĩnh thí phân của doanh nghiệp trên thi trường, Chính vi vậy, việc bão hộ nhấn hiệu được ‘hé thống pháp luật coi trọng tử rat sớm Nhiéu quy định về SHTT nói chung, về nhấn hiệu nói riêng được xây dựng trong các văn bản quy phạm pháp luật của ‘Viet Nam cũng như được nhất thể hóa trong các công ước quốc tế nhằm tạo ra sự ‘bao hô thông nhất va hiệu quả đối với loại tài sin vô hình song rat có giá trị nay. Co thể kể đến các công ước quốc tế như.
Thỏa tước Madrid năm 1891 vé chống các chi dẫn giả mạo hoặc lừa dối về nguồn gốc hang hóa, Hiệp ước vềluật nhãn hiệu hàng hóa năm 1904 Nhãn hiệu là quyển tai sản thuộc vé một chủ thể nhất định ma thông thường là các thương nhân ~ Những người chuyên cung cấp hàng hóa và địch vụ trên thị trường, WIPO đã tổng kết, hầu hết các nước có quy định về bao hộ nhãn. "hiệu tập thé và nhấn hiệu nay được quan niệm là những dẫu hiệu phân biệt nguồn. gốc địa ly, vat liêu, phương thức sản xuất hoặc các đặc điểm chung của hang húa hoặc dich vụ của những doanh nghiệp khác nhau sử dụng nhấn hiệu tập thé mi chủ sử hữu của nhấn hiệu này có thể là mét hiệp hội có thành viên là các doanh nghiệp hoặc bat kỳ thực thé nao khác, bao gồm một định chế công (A public institution) hoặc mét hợp tác (A cooperative), Luật Mẫu của WIPO năm 1967 đành cho các nước phát triển quy định vẻ nhãn hiệu như sau: “ Dấu hiệu đing để phan bist hằng hóa hoặc dich vu của doanh nghiệp công nghiệp hoặc thương. mại hoặc của một nhóm doanh nghiệp đó.
Dấu hiện này có thé là một hoặc nhiều từ ng: chit số hình ảnh, biểu tượng, màu sắc hoặc sự hắt hợp nhiễu các 1 mầm sắc, hình hức hoặc sự trình bay đặc biệt trên bao bi, bao gói sản phẩm Dé hiệu này có thé là sự két hợp của nhiều yếu tế nói trên. Nhãn hiệu chi được 6 nấu nó chưa được cá nhân hoặc doanh nghiệp nào khác ngoài chủ sở lu nhn hiêu đô sit dng hoặc nhẫn hiệu đó không tring hoặc tương he đắn mức gậy nhằm lẫn với một nhấn hiệu khác được đăng kf trước đỏ cho cùng loại sản phẩm”. Khải niệm nhãn hiệu theo Luật nhấn hiệu Trung quốc la dẫu "hiện đặc trưng và có khả năng phân biết. Nhẫn hiệu có thé la những từ ngữ, hình.
ảnh và sự kết hợp của các yêu tố đó được thể hiện bằng một hoặc nhiêu mẫu sic (Điều 8 Luật nhấn hiệu)` ‘Viét Nam là thánh viên của nhiều thỏa thuận quốc tế song phương và đa. phường điều chỉnh các vấn dé liên quan đến nhấn hiệu, bao gồm Công tước Paris về bảo hộ SHCN (Công ước Paris), Hệ thông đăng ký nhãn hiệu quốc tế (Théa tước Madrid, Nghị định thư Madrid) và Hiệp định về các khia cạnh liền quan đến thương mại của quyển SHTT (Hiệp dinh TRIPS). Tại Công ước Paris và Thỏa tước Madrid chưa đưa ra khái niệm về nhấn hiệu mà chỉ đưa ra những quy định liên quan đến nhấn hiệu. Công ước Paris quy định về việc bao hô các đổi tương, của SHCN trong đó có nhấn hiệu và Thöa ước Madrid quy định vẻ đăng ký quốc tế đối với nhãn hiệu hang hóa.
Chỉ đến khi Hiệp định TRIPS được ban hành, khái niêm nhãn hiệu mới được quy đính một cách chỉ tiết và cụ thé. Khoản 1 Điện 15 Hiệp định TRIPS quy định về nhãn hiệu như sau: “Bat xÿ một đấu hiệu odie 16 hop các dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng lóa và dich vu của một doanh nghiệp với hing hóa hoặc dich vụ của các doanh nghiệp khác đền có thé làm nhãn hiệu. Các dẫu hiện đó, đặc biệt là các te ké cả tên riêng. các chit cất chữ.
các yếu tố hình học và tỗ hop các màu sắc cũng như tổ hop bắt i của các dấu hiệu đỏ phải có khả năng đăng Rý là nhấn hiệu hàng hoa’? gaa Tụ Lạ Anh G019), By gu ng nghệpđ tới nt eo pet l tước ngoặc Bỏ Diễn, Khoa Luật ~ Đại học Quốc Gia Hi Nội,tr4. "Người Hướng din khoa học: PöS T5. Nguyễn 2 Ths Vii Thị Hải Yên (2003), “Khát nệm nhẫn iu hàng hóa trong Bó luật dim sự 1965”, Tạp chi Luật Hoc “(Số 3 năm 2003). BLDS năm 1995 đã bước đâu ghi nhận những dâu ấn đâu tiên của khái niêm “Nhãn liệu hàng hỏa”.
Cụ thể, Điều 785 BLDS năm 1995, theo đó “Nhiễm hiệu hàng hóa là những dấu hiệu đìng đã phân biệt hàng hóa dich vụ cùng loat của các co sở sản xuất. hinh doanh khác nhưnL Nhãn liệu hàng hóa có thé là tie ngất hình ảnh hoặc sự kết hợp các yêu tổ đó được thé hiện bằng một hoặc nhiều mẫu sắc”. Theo đó, những dấu hiệu của nhãn hiệu có thể là từ ngữ, hình ảnh. hoặc sự kết hợp của các yếu tổ đó.
Quy định nay cho thấy phạm vi những dầu. hiện có thể được đăng ký làm nhãn hiệu theo quy định của BLDS năm 1995 hẹp hơn so với Hiếp định TRIPS. Cách sử dụng thuật ngữ “MMiấn hiểu hảng hóa" trong BLDS năm 1995 chưa bao quất được cả loại nhãn hiệu dũng cho dich vu. Khai niêm này cũng chưa khái quát được chức năng của nhấn hiệu Khi quy định.
nhấn hiệu ` Dũng để phân biệt những hàng hóa, dich vụ củng loại”. Bé trở thành thành viên của Tổ chức thương mai thé giới (WTO), Việt Nam đã hoàn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia bảo đầm đáp ứng yêu cẩu của Hiệp định TRIPS. Dựa trên tinh than của các điển ước quốc tế đã ký kết. Hiện nay, Việt Nam đã quy định khát niệm nhấn hiệu tại Khoăn 16 Điều 4 Luật SHTT như sau: “Miễn hiệu là dấu hiệu đùng để phân biệt hàng hóa, dich vụ của các tổ chức, cả nhân Rhác nhưai “` Như vay thuật ngữ “Nhấn hiệu hàng hóa” quy định tại BLDS năm 1995 đã được thay bằng thuật ngữ “Miấn hiệu” tại Luật SHTT năm 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009 (Son dy gọi tắt là “uật SHTT”).
Quy định này có tính khái quất hon sơ với quy định của BLDS năm 1995, xác định chức năng của nhấn ‘hiéu là để phân biệt hang hóa, địch vụ cùng loại hoặc khác loại của các td chức, cá nhân khác nhau đông thời đưa ra giới hạn các dau hiệu có thé được đăng ký lâm nhãn hiệu trong khái niệm Theo đó, chúng ta có thể hiểu lả bat kỳ dau hiệu. ảo có khả năng phân biệt hang hóa dich vụ của tổ chức hay cả nhân khác nhau. thì đều có thé được đăng ký làm nhấn hiệu. Điều 72 Luật SHTT quy định về điều kiện chung đối với nhấn hiệu được bảo hộ như sau: "Nhấn hiệu được bảo lộ nỗu đáp ứng các điều kiên sem đây: Lat dẫu hiệu nhìn thắp được es ¡ dang chit cải, từ ngữ; hình võ, hình ảnh ii cả 9 hình ba chiêu hoặc sự kết hợp các yếu tô 86, được thé hiện bằng một hoặc nhiễu mẫu s 2.
Có khi năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hit m hiệu với hàng hoá, dich vụ cũa chủ thé khác". Nhãn hiệu được cấp văn bằng bắn hộ phải đồng thời đáp ứng hai tiêu chỉ Thứ: nhất, nhấn hiệu phải là các dầu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình ba chiễu hoặc sự kết hợp các yêu t6 đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mau sắc. Nhãn hiệu phải là các dấu hiệu nhìn. thấy được có nghĩa là con người có thé nhận thức được, nắm bắt được chúng qua khả năng thị giác của con người.
Người tiêu dùng qua quan sát, nhìn ngắm để phát hiện ra loại hang hóa, dich vụ có gắn với nhấn hiệu đó dé lựa chọn. Quy định nhãn hiệu phải là các dầu hiệu “nhin thấp được” trong Luật SHTT của Việt Nam không tương đồng so với quy định quốc tế, nhất là với Hiệp định TRIPS và Hiệp định Đối tác toàn điện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP), Hiệp định TRIPS quy định rat rộng vẻ phạm vi các dau hiệu có khả năng được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu, đó 1a bat kỳ một dầu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu, ‘bao gồm dâu hiệu nhìn thấy được (như các chữ cái, các chữ số, các yêu tổ hình họa) và dầu hiệu không nhìn thay được (như âm thanh, mùi, vi) có khả năng phân biệt hàng hỏa hoặc dich vụ của một doanh nghiệp với hang hỏa hoặc dịch vụ của các doanh nghiệp khác, đều có thé được đăng ký làm nhãn hiệu (Điểu 15.1), Tương tư như Hiệp định TRIPS, ngoai các đối tương truyén thông mã. pháp luật Việt Nam đang bao hô (như chữ, ký hiệu, từ ngữ, hình ảnh), CPTPP. côn mỡ rộng ra cả âm thanh (nghe thay) vả khuyến khích các nước bảo hộ cả mùi (ngin thấy), Đồi với tắt cả các đối tương được bảo hộ, không bất buộc phải “ahin thấp duoc”.
Luật SHTT của Việt Nam, tinh đến nay, chưa có quy định nào liên quan đến xem xét và đăng ký nhấn hiệu phi truyền thông (nhãn hiện có dâu. hiện âm thanh, mùi, vi). Am thanh hay mùi, vi, đủ không nhìn thấy được nhưng, lại có thé phân biệt được bằng những giác quan khác va có thé dé lại ấn trong sâu đâm cho người đùng, miễn là nó có tinh phân biệt cao. Tức là, nghe thay âm.
thanh đó, ngửi thấy mùi vị đó là ta liên tưởng ngay đến sản phẳnVdich vụ của 10 nhà cung cấp sản phẩm/dịch vụ ma không thể nhâm lẫn vào đâu được. Bảo hộ nhãn hiệu âmthanh, mùi vị mới phù hợp với xu thé quốc tế. Nhấn hiệu có thể được thể hiện thông qua các dấu hiệu chữ cái, tirny hình vế, hình ảnh, ké cả hình ba chiêu hoặc sự kết hợp các yêu tổ đó, được thé hiện bằng một hoặc nhiêu mẫu sắc.