Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các hoạt động kinh doanh, thương mại giữa các doanh nghiệp, thương nhân diễn ra với quy mô và mật độ ngày càng lớn. Đi cùng với sự phát triển của các quan hệ hợp tác và cạnh tranh kinh tế là sự gia tăng nhanh chóng về số lượng cũng như tính chất phức tạp của các tranh chấp kinh doanh, thương mại (KDTM). Để giải quyết những xung đột về quyền và lợi ích hợp pháp này, hệ thống pháp luật Việt Nam ghi nhận nhiều phương thức tài phán và phi tài phán, trong đó giải quyết tranh chấp thông qua Tòa án nhân dân (TAND) giữ vai trò là phương thức tài phán tư pháp chủ đạo và có giá trị cưỡng chế thi hành cao nhất.

Tuy nhiên, thực tiễn xét xử sơ thẩm tại hệ thống Tòa án các cấp cho thấy việc xác định chính xác thẩm quyền giải quyết các vụ án KDTM vẫn còn nhiều vướng mắc, lúng túng, đặc biệt là ở cấp Tòa án nhân dân cấp huyện. Sự chưa đồng bộ giữa quy định pháp luật nội dung (như Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp) với quy định pháp luật hình thức (Bộ luật Tố tụng Dân sự), cùng với sự thiếu vắng các văn bản hướng dẫn áp dụng thống nhất, đã dẫn đến tình trạng đùn đẩy hoặc thụ lý sai thẩm quyền giữa các Tòa án. Nhằm góp phần làm rõ các vấn đề lý luận và tháo gỡ bất cập thực tiễn, tác giả Đỗ Thành Long đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Thẩm quyền giải quyết các tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân cấp huyện" tại Trường Đại học Luật Hà Nội (2023).

Về mặt tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả điểm qua các công trình tiêu biểu đi trước như Luận văn thạc sĩ Luật học (2020) "Thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam" của Nguyễn Thị Thảo và Luận văn thạc sĩ Luật học (2022) "Thẩm quyền dân sự của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại theo pháp luật Việt Nam" của Bùi Thị Phương Đông. Trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó, khóa luận tập trung chuyên sâu vào thẩm quyền của TAND cấp huyện và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể gồm:

  1. Hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tranh chấp KDTM, thẩm quyền tư pháp của Tòa án và tiến trình phát triển của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM từ năm 1945 đến nay.
  2. Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật thực định hiện hành (trọng tâm là Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015) về thẩm quyền của TAND cấp huyện theo loại việc, theo cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của nguyên đơn trong giải quyết tranh chấp KDTM.
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật tại TAND cấp huyện, chỉ ra những hạn chế, vướng mắc phát sinh trong quá trình thụ lý và giải quyết vụ án; từ đó luận giải cơ sở và đưa ra các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận, các quy định của pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự về thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của TAND cấp huyện, cùng thực tiễn áp dụng các quy định này trong hoạt động xét xử sơ thẩm.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về mặt không gian và pháp lý: Nghiên cứu trong phạm vi các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam điều chỉnh thẩm quyền của TAND, tập trung chủ yếu vào Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đặt trong mối tương quan so sánh với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và các văn bản tố tụng trước đó.
    • Về mặt thời gian và thực tiễn: Khảo cứu tiến trình lập pháp từ năm 1945 đến nay và thực tiễn giải quyết các vụ án tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện trong giai đoạn hiện hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Nhà nước và pháp luật, kết hợp với việc quán triệt các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế thị trường và Chiến lược cải cách tư pháp (trọng tâm là Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị).

Về mặt khái niệm và lý thuyết, công trình tiếp cận thẩm quyền tư pháp của Tòa án như một phương diện quyền lực công nhân danh Nhà nước nhằm bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân và quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh theo quy định tại Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM mang tính chất đặc thù: vừa bảo đảm tính quyền lực nhà nước độc lập, vừa tôn trọng tối đa quyền tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự theo nguyên tắc tố tụng dân sự.

Tác giả đã kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được áp dụng xuyên suốt tất cả các chương nhằm phân tích các khái niệm pháp lý, cấu trúc quy phạm pháp luật tố tụng và tổng hợp các quan điểm học lý, thực tiễn xét xử.
  • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm đối chiếu quy định pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (trước 1945, 1945–1989, 1989–2004, 2004 đến nay) và so sánh sự khác biệt giữa các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2004 (sửa đổi 2011) với Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
  • Phương pháp diễn giải và quy nạp: Sử dụng trong toàn bộ văn bản để làm sáng tỏ các thuật ngữ, nguyên tắc pháp lý và khái quát hóa từ các trường hợp thực tiễn thành các luận điểm khoa học.
  • Phương pháp phân tích số liệu và tài liệu thứ cấp: Áp dụng tại Chương 3 để khảo cứu các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ của TAND Tối cao, báo cáo tổng kết thực tiễn xét xử, giáo trình chuyên ngành và các công trình nghiên cứu có liên quan.
Nhóm văn bản pháp lý Các văn bản tiêu biểu được trích dẫn và phân tích trong khóa luận
Hiến pháp và Luật Tổ chức Hiến pháp năm 2013 (Điều 31, Điều 102); Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (Điều 2, Điều 3).
Bộ luật và Luật chuyên ngành Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (các Điều 26, 30, 35, 37, 38, 39, 40); Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 107); Luật Thương mại năm 1997 và 2005 (Điều 3, Điều 7); Luật Doanh nghiệp năm 2014 (Điều 16); Luật Cư trú năm 2020 (Điều 11, Điều 19).
Nghị quyết và Văn bản hướng dẫn Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP, Nghị quyết số 01/2005/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC; Công văn số 212/TANDTC-PC ngày 13/9/2019 của TANDTC; Nghị định số 01/2021/NĐ-CP; Công văn nghiệp vụ số 45/2019/CV-TA của TAND quận Hai Bà Trưng.
Văn bản lịch sử pháp lý Sắc lệnh số 34/SL (1945), Sắc lệnh số 46/SL (1945), Sắc lệnh số 13/SL và 51/SL (1946), Sắc lệnh số 85/SL (1950); Luật Tổ chức TAND năm 1960; Thông tư 39/NCPL (1972), Thông tư 96/NCPL (1977); Pháp lệnh TTGQ các vụ án dân sự năm 1989; Pháp lệnh Trọng tài kinh tế năm 1990; Pháp lệnh TTGQ các vụ án kinh tế năm 1994 (PLTTGQCVAKT); BLTTDS năm 2004.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về thẩm quyền của Tòa án trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về thẩm quyền tư pháp trong lĩnh vực KDTM:

  • Khái niệm và đặc điểm: Trên cơ sở đối chiếu quy định tại khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005, khoản 4 Điều 16 Luật Doanh nghiệp năm 2014 và giáo trình chuyên ngành, tác giả đưa ra định nghĩa: "Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn hay xung đột về quyền và lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ giữa các chủ thể tham gia vào quá trình của hoạt động KDTM". Thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM của Tòa án là quyền hạn do pháp luật quy định cho TAND trong việc thụ lý, giải quyết các vụ việc theo thủ tục tố tụng dân sự. Thẩm quyền này mang các đặc điểm: (1) Được thực hiện bằng quyền lực tư pháp nhà nước độc lập; (2) Tuân theo thủ tục tố tụng dân sự nghiêm ngặt và tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự; (3) Tòa án không được từ chối thụ lý, giải quyết kể cả khi chưa có điều luật áp dụng trực tiếp (theo quy định của BLTTDS 2015); (4) Thường xuyên phụ thuộc vào thỏa thuận lựa chọn phương thức tài phán (như thỏa thuận trọng tài thương mại) của các bên.
  • Ý nghĩa của việc phân định thẩm quyền: Xác lập cơ sở pháp lý để Tòa án thụ lý vụ việc đúng chức năng; bảo đảm điều kiện chuyên môn của Hội đồng xét xử; là căn cứ để đương sự thực hiện quyền khởi kiện bảo vệ quyền lợi; phân định ranh giới hoạt động giữa Tòa án với các cơ quan nhà nước khác; thiết lập sự phân công xét xử giữa các cấp Tòa án (sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm) và giữa các địa phương theo lãnh thổ.
  • Cơ sở quy định thẩm quyền: Luận giải dựa trên 3 trụ cột: (1) Cơ sở lý luận (đáp ứng yêu cầu tổ chức bộ máy tư pháp 4 cấp khoa học, bảo đảm nguyên tắc xét xử hai cấp); (2) Cơ sở pháp lý (thể chế hóa đường lối cải cách tư pháp của Đảng, Hiến pháp 2013 và các đạo luật tổ chức); (3) Cơ sở thực tiễn (nhu cầu bảo vệ trật tự kinh tế thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia).
  • Lịch sử pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam từ năm 1945 đến nay: Tác giả phân kỳ và khái quát 4 giai đoạn phát triển:
    1. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945: Thời phong kiến chưa tách bạch các lĩnh vực tố tụng (chịu ảnh hưởng Nho giáo, Quốc triều hình luật); thời Pháp thuộc tồn tại chế độ hai hệ thống Tòa án (Tòa án Pháp và Tòa án Nam án), ban hành các bộ luật tố tụng Bắc Kỳ (1921), Trung Kỳ (1935) mang dấu ấn của Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp năm 1806.
    2. Giai đoạn 1945 - 1989: Bước đầu xác lập hệ thống Tòa án nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa qua các Sắc lệnh 13/SL, 51/SL năm 1946; Sắc lệnh 85/SL năm 1950 đổi tên các cấp Tòa án thành TAND huyện, TAND tỉnh, TAND Tối cao; Luật Tổ chức TAND năm 1960 và các Thông tư 39/NCPL (1972), 96/NCPL (1977) phân định thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện và quyền rút án lên của TAND cấp tỉnh.
    3. Giai đoạn 1989 - 2004: Ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự (1989), Pháp lệnh Trọng tài kinh tế (1990), Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế (1994). Xu hướng mở rộng thẩm quyền cho TAND cấp huyện và thu hẹp thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh bắt đầu được thể chế hóa.
    4. Giai đoạn 2004 đến nay: Đánh dấu sự ra đời của Bộ luật Tố tụng Dân sự đầu tiên năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) và sau đó là Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, phân định rõ ràng các loại tranh chấp KDTM và thẩm quyền của các cấp Tòa án.

Chương 2: Quy định về thẩm quyền trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án cấp huyện theo pháp luật Việt Nam

Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, đi sâu phân tích hệ thống quy phạm thực định của BLTTDS năm 2015:

  • Thẩm quyền theo cấp của TAND cấp huyện: Căn cứ khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015, TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với: Tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Tác giả phân tích hai điều kiện bắt buộc:
    • Điều kiện về hoạt động và mục đích lợi nhuận: Bao gồm hoạt động trực tiếp theo đăng ký kinh doanh và các hoạt động khác nhằm phục vụ, thúc đẩy, nâng cao hiệu quả KDTM. Mục đích lợi nhuận là mong muốn chủ quan nhằm thu lợi nhuận, không phụ thuộc vào việc thực tế giao dịch có phát sinh lợi nhuận hay không (theo tinh thần Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP).
    • Điều kiện về chủ thể có đăng ký kinh doanh: Phân tích 3 luồng quan điểm thực tiễn: Quan điểm thứ nhất đòi hỏi tất cả các bên phải có Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh/doanh nghiệp (được TANDTC áp dụng tại Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019); Quan điểm thứ hai mở rộng cho mọi chủ thể được Nhà nước cho phép kinh doanh (kể cả hộ gia đình kinh doanh không phải đăng ký theo Nghị định 01/2021/NĐ-CP); Quan điểm thứ ba dựa vào bản chất giao dịch sinh lợi mà không bắt buộc mọi bên phải có đăng ký kinh doanh. Tác giả chỉ ra sự thiếu đồng nhất giữa luật nội dung và luật hình thức khiến việc áp dụng tại Tòa án cấp huyện gặp nhiều lúng túng.
  • Phân định với thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS năm 2015, TAND cấp tỉnh giải quyết các tranh chấp KDTM quy định từ khoản 2 đến khoản 5 Điều 30, bao gồm:
    • Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận (khoản 2 Điều 30);
    • Tranh chấp giữa người chưa phải là thành viên công ty nhưng có giao dịch về chuyển nhượng phần vốn góp với công ty, thành viên công ty (khoản 3 Điều 30);
    • Tranh chấp nội bộ công ty giữa công ty với các thành viên, giữa các thành viên với nhau, hoặc giữa công ty với người quản lý doanh nghiệp liên quan đến thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, bàn giao tài sản, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty (khoản 4 Điều 30);
    • Các tranh chấp khác về KDTM theo quy định của pháp luật (khoản 5 Điều 30 - điều khoản mở, mang tính dự phòng).
  • Thẩm quyền theo lãnh thổ của TAND cấp huyện (Điều 39):
    • Trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản: Theo điểm c khoản 1 Điều 39, chỉ Tòa án nơi có bất động sản mới có thẩm quyền giải quyết. Tác giả phân tích lợi thế trong việc kiểm tra, đánh giá chứng cứ, xác minh nguồn gốc đất đai/nhà xưởng; đồng thời viện dẫn ví dụ từ Công văn số 45/2019/CV-TA của TAND quận Hai Bà Trưng (tranh chấp về hợp đồng mua bán căn hộ chung cư bị chuyển qua lại với TAND quận Ba Đình) để minh họa cho sự lúng túng khi xác định bản chất tranh chấp hợp đồng hay tranh chấp bất động sản.
    • Trường hợp đối tượng tranh chấp không phải bất động sản: Xác định theo thứ tự ưu tiên: (1) Thỏa thuận bằng văn bản giữa các đương sự lựa chọn Tòa án nơi cư trú/trụ sở của nguyên đơn (điểm b khoản 1 Điều 39); (2) Sự lựa chọn của nguyên đơn theo Điều 40; (3) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (đối với cá nhân) hoặc nơi có trụ sở (đối với tổ chức) theo điểm a khoản 1 Điều 39.
  • Thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Điều 40): Phân tích các trường hợp nguyên đơn được quyền chủ động chọn Tòa án giải quyết:
    • Khi không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn (chọn Tòa nơi bị đơn cư trú/làm việc/có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản);
    • Tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng (chọn Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện theo điểm g khoản 1 Điều 40);
    • Tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh (chọn Tòa án nơi doanh nghiệp có trụ sở hoặc nơi có chi nhánh theo điểm b khoản 1 Điều 40);
    • Tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau (chọn Tòa án nơi có một trong các bất động sản theo điểm i khoản 1 Điều 40);
    • Vụ án có nhiều bị đơn cư trú, đặt trụ sở ở nhiều địa phương khác nhau (chọn Tòa án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở theo điểm h khoản 1 Điều 40).

Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại

Chương 3 tổng kết các khía cạnh thực tiễn và nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng:

  • Thực trạng và bất cập trong áp dụng pháp luật: Chỉ ra các vướng mắc phổ biến tại TAND cấp huyện như: xung đột trong xác định tư cách chủ thể "có đăng ký kinh doanh"; sự nhầm lẫn giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp KDTM khi các bên giao kết hợp đồng nhằm mục đích sinh lợi nhưng một bên không đăng ký kinh doanh; khó khăn trong việc phân biệt mục đích sinh hoạt và mục đích lợi nhuận đối với tranh chấp sở hữu trí tuệ; xung đột thẩm quyền theo lãnh thổ trong các tranh chấp hợp đồng mua bán nhà ở hình thành trong tương lai và căn hộ chung cư.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung quy định của BLTTDS theo hướng căn cứ vào bản chất thương mại của giao dịch thay vì thuần túy dựa vào tiêu chí hình thức đăng ký kinh doanh; TAND Tối cao cần sớm ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP để hướng dẫn chi tiết các tiêu chí xác định thẩm quyền của BLTTDS năm 2015.
  • Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán, Thư ký Tòa án cấp huyện; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra nghiệp vụ và giải đáp vướng mắc trực tuyến từ TAND Tối cao để hạn chế việc hủy án, chuyển án sai thẩm quyền.

Kết quả và đóng góp

Công trình nghiên cứu đã đạt được các kết quả khoa học và đóng góp cụ thể:

  1. Hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý: Làm rõ quá trình tiến hóa của các quy định pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam qua 4 giai đoạn lịch sử đối với thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế/thương mại của Tòa án cấp huyện, khẳng định tính tất yếu của xu thế mở rộng thẩm quyền xét xử sơ thẩm cho Tòa án cấp cơ sở.
  2. Làm rõ tiêu chí xác định thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp huyện: Phân tích bản chất của hai điều kiện "phát sinh từ hoạt động KDTM có mục đích lợi nhuận" và "giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau" theo khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015; chỉ ra điểm nghẽn lý luận và thực tiễn giữa việc áp dụng pháp luật nội dung (Luật Thương mại) và pháp luật hình thức (BLTTDS).
  3. Xác lập thứ tự ưu tiên trong xác định thẩm quyền theo lãnh thổ: Luận giải rõ ràng thứ tự áp dụng khi thụ lý đơn khởi kiện đối với tranh chấp KDTM không có đối tượng là bất động sản: Ưu tiên thỏa thuận chọn Tòa án nơi nguyên đơn $\rightarrow$ Sự lựa chọn của nguyên đơn theo quy định tại Điều 40 $\rightarrow$ Thẩm quyền theo nơi cư trú/trụ sở của bị đơn theo khoản 1 Điều 39.
  4. Đưa ra các giải pháp và kiến nghị cụ thể: Đề xuất sửa đổi các quy định còn bất cập của BLTTDS năm 2015, yêu cầu ban hành văn bản hướng dẫn nghiệp vụ mới thay thế Nghị quyết số 03/2012/NQ-HĐTP và đề xuất nâng cao năng lực chuyên môn của Thẩm phán TAND cấp huyện trong bối cảnh xét xử các tranh chấp thương mại ngày càng phức tạp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận được thực hiện trong khuôn khổ công trình tốt nghiệp đại học nên còn một số giới hạn nhất định:

  • Hạn chế: Phạm vi nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các quy định của pháp luật thực định Việt Nam (trọng tâm là BLTTDS năm 2015); nguồn số liệu thực tiễn và vụ việc án lệ được khai thác từ một số Tòa án địa phương và công văn hướng dẫn nghiệp vụ tiêu biểu, chưa tiến hành khảo sát định lượng trên diện rộng ở tất cả các TAND cấp huyện trên toàn quốc. Khóa luận cũng chưa đi sâu so sánh đối chiếu với pháp luật tố tụng thương mại của các quốc gia khác trên thế giới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật tại nhiều TAND quận/huyện ở các trung tâm kinh tế lớn; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về phân định thẩm quyền Tòa án thương mại chuyên trách; đánh giá tác động của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đối với việc điều chỉnh thẩm quyền tư pháp trong nước.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên luật học: Là tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về chuyên đề thẩm quyền giải quyết tranh chấp KDTM trong môn học Luật Tố tụng Dân sự và Luật Kinh tế; cung cấp hệ thống văn bản pháp lý và các án lệ, công văn nghiệp vụ thực tiễn hữu ích.
  • Đối với người làm công tác thực tiễn (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Luật sư): Cung cấp các phân tích chi tiết về tiêu chí thụ lý án KDTM tại cấp huyện, hướng dẫn giải quyết xung đột thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn khi soạn thảo đơn khởi kiện hoặc xem xét thụ lý vụ án.
  • Đối với doanh nghiệp và thương nhân: Giúp người quản lý doanh nghiệp nắm vững các quy định về thỏa thuận lựa chọn Tòa án giải quyết tranh chấp khi đàm phán, giao kết hợp đồng thương mại nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi xảy ra xung đột.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo BLTTDS năm 2015, TAND cấp huyện có thẩm quyền sơ thẩm đối với những loại tranh chấp kinh doanh, thương mại nào?
Căn cứ theo khoản 1 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 35 BLTTDS năm 2015, TAND cấp huyện chỉ có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm đối với các tranh chấp phát sinh trong hoạt động KDTM giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Các tranh chấp KDTM khác (quy định từ khoản 2 đến khoản 5 Điều 30) đều thuộc thẩm quyền sơ thẩm của TAND cấp tỉnh.

2. Tranh chấp hợp đồng giữa các bên có mục đích sinh lợi nhưng một bên không có đăng ký kinh doanh thì được xác định là tranh chấp dân sự hay tranh chấp KDTM?
Theo quy định tại khoản 1 Điều 30 BLTTDS năm 2015 và hướng dẫn nghiệp vụ tại Công văn số 212/TANDTC-PC năm 2019 của TAND Tối cao, tranh chấp này được xác định là tranh chấp dân sự (thuộc thẩm quyền theo Điều 26 BLTTDS), do không đáp ứng đủ điều kiện về mặt chủ thể là tất cả các bên tham gia giao dịch phải có đăng ký kinh doanh.

3. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ hoặc chuyển giao công nghệ có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp nào?
Căn cứ khoản 2 Điều 30 và điểm a khoản 1 Điều 37 BLTTDS năm 2015, mọi tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của TAND cấp tỉnh, không thuộc thẩm quyền của TAND cấp huyện.

4. Khi tranh chấp KDTM có đối tượng là bất động sản nằm ở nhiều địa phương khác nhau, nguyên đơn có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nào?
Theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 40 BLTTDS năm 2015, trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản mà bất động sản đó nằm ở nhiều địa phương khác nhau, nguyên đơn có quyền lựa chọn và yêu cầu Tòa án nhân dân nơi có một trong các bất động sản đó tiến hành giải quyết.

5. Đối với tranh chấp KDTM không có đối tượng là bất động sản, việc xác định thẩm quyền Tòa án cấp huyện theo lãnh thổ tuân theo thứ tự nào?
Thứ tự xác định gồm: (1) Căn cứ vào thỏa thuận bằng văn bản của các bên về việc chọn Tòa án nơi cư trú/trụ sở của nguyên đơn (điểm b khoản 1 Điều 39); (2) Nếu không có thỏa thuận, xác định theo quyền lựa chọn Tòa án của nguyên đơn theo quy định tại Điều 40; (3) Nếu không thuộc các trường hợp nguyên đơn được lựa chọn hoặc nguyên đơn không thực hiện quyền lựa chọn, thẩm quyền thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc (nếu là cá nhân) hoặc nơi có trụ sở (nếu là cơ quan, tổ chức) theo điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đỗ Thành Long đã phân tích một cách hệ thống, toàn diện các vấn đề lý luận và quy định pháp luật thực định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Công trình chỉ rõ những bất cập trong việc áp dụng điều kiện chủ thể đăng ký kinh doanh và sự phân định thẩm quyền theo cấp, theo lãnh thổ trong thực tiễn xét xử sơ thẩm. Các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi được đề xuất có giá trị khoa học và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng dân sự tại Việt Nam.