CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE ÁP DUNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYÉT TRANH CHAP KINH DOANH THUONG MAI CUA TOA ÁN NHÂN DAN CAP TINH 1. Khái niệm va đặc điểm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân cấp tỉnh 1. Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân cấp tỉnh - Khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại Tranh chấp kinh doanh thương mại là thuật ngữ quen thuộc trong đời sống kinh tế ở các nước trên thé giới. Tuy nhiên, khái niệm này mới chi được sử dụng phổ biến rộng rãi ở nước ta cùng với sự nhường bước của khái niệm tranh chấp kinh tế.
Hiện nay, có nhiều cách tiếp cận và lý giải khác nhau về nội hàm của tranh chấp thương mại hay tranh chấp kinh doanh thương mại; tranh chấp kinh tế, bởi vì bản thân kinh doanh thương mại von chứa đựng nhiều hoạt động khác nhau với những đặc thù riêng biệt, phong phú và đa dạng. Từ góc độ ngôn ngữ phổ thông, “ kinh doanh” là tổ chức, sản xuất, buôn bán sao cho sinh lời; “ thương mại” là thực hiện lưu thông hàng hóa bang mua bán; “ kinh tế” là tổng thé nói chung những quan hệ sản xuất của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định. Theo cách hiểu này thì nội hàm của tranh chấp kinh tế rộng hơn, bao gồm cả tranh chấp kinh doanh thương mại. Ở góc độ pháp lý, hầu hết các quan điểm đồng nhất “ tranh chấp kinh tế” với “ tranh chấp thương mại” hay “ tranh chấp kinh doanh thương mại”.
Luật mẫu về Trọng tài thương mại quốc tế của Ủy ban Luật Thương mại quốc tế (UNCTTRAL) đưa ra khái niệm thương mại với nội hàm rất rộng liên quan đến tất cả các quan hệ mang bản chất thương mại. Xuất phát từ đó mà tranh 7 chấp thương mại cũng được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm toàn bộ các tranh chấp phát sinh từ các giao dịch thương mại. Trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hội nhập với nền kinh tế thế giới để phát triển, hoạt động kinh doanh thương mại đã thu hút được nhiều hơn các chủ thé kinh doanh bên cạnh các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã. Các quan hệ kinh tế xuất hiện ngày càng nhiều với hình thức phong phú, tính chất phức tạp và chính các quan hệ kinh tế này luôn tiềm ấn các nguy cơ phát sinh tranh chấp nhằm tranh giành lợi ích giữa các bên tham gia.
Do đó, hiện nay, các van dé liên quan đến tranh chấp kinh doanh thương mại được rất nhiều người quan tâm và đặt ra nhu cầu phải nghiên cứu, mở rộng nội hàm của khái niệm tranh chấp kinh doanh thương mại. Luật thương mại năm 2005 không đưa ra khái niệm về tranh chấp kinh doanh thương mại mà chỉ đưa ra khái niệm hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Như vậy, quan niệm về hoạt động thương mại đã được mở rộng bao gồm mọi hoạt động có mục đích sinh lợi. Hướng tiếp cận về hoạt động thương mại này đã được mở rộng tương đồng với khái niệm kinh doanh: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, tranh chấp kinh doanh thương mại được hiểu là những tranh chấp trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận. Những tranh chấp đó bao gồm: mua bán hàng hoá; cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý; ký gửi; thuê, cho thuê, thuê mua; xây dựng: tư vấn, kỹ thuật; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; vận chuyền hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; mua bán cổ 8 phiếu, trái phiếu va giấy tờ có giá khác; đầu tư, tài chính, ngân hàng: bảo hiểm; thăm do, khai thác; tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tô chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận; tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thé, sap nhap, hợp nhất, chia, tách, chuyén đổi hình thức tô chức của công ty; các tranh chap khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định. Đặc điểm của tranh chấp kinh doanh thương mai thể hiện ở chủ thé, mục đích và đối tượng của nó. Về chủ thể, chủ yếu là các thương nhân; trong một số trường hợp có thé là các cá nhân, t6 chức không phải là thương nhân và các bên tranh chấp có đăng ký kinh doanh.
Về mục đích, các bên tranh chấp đều có mục đích lợi nhuận, thê hiện ở sự mong muốn của cá nhân, tổ chức kinh doanh thương mại thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó. Về đối tượng của tranh chấp, đó là những mâu thuẫn bat đồng về quyền và nghĩa vụ giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại nhăm mục dich sinh lợi như mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiễn thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. - Khái niệm ADPL trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại của Tòa án nhân dân cấp tỉnh + Áp dụng pháp luật là một hình thức quan trọng của thực hiện pháp luật: Dé điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh và ngày càng phức tạp như hiện nay. Nhà nước đã tiến hành xây dựng ( ban hành) pháp luật.
Khi ban hành quy phạm pháp luật nhà nước mong muốn sử dụng chúng dé điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm đạt được những mục đích nhất định vì lợi ích của mỗi thành viên, cũng như của cả cộng đồng xã hội. Tuy nhiên vấn đề quan trọng không chi là ban hành thật nhiều các quy phạm pháp luật mà còn tổ chức thực hiện chúng trên thực tế, làm cho những yêu cầu, những quy định 9 của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống. Thực hiện pháp luật nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự cần thiết để các quan hệ xã hội ton tại và phát triển theo những định hướng mong muốn có lợi cho xã hội, cho nhà nước cũng như cho các cá nhân. Vậy thực hiện pháp luật là gì? Trong khoa học pháp lý có nhiều quan niệm, nhận thức và cách giải thích khác nhau về thực hiện pháp luật.
Tuy nhiên đa số các quan điểm đều thống nhất cho răng: “ Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật”. Các quy phạm pháp luật rất phong phú nên hình thức thực hiện chúng cũng khác nhau. Căn cứ vào yêu cầu của các quy phạm pháp luật có thể chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức là: Tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và ADPL. Trong các hình thức thực hiện pháp luật, ADPL được coi là hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất, vì pháp luật ở đây được thực hiện bởi các chủ thé nắm quyền lực nhà nước.
Nếu tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật là hình thức mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện được thì ADPL là hình thức luôn có sự cam thiệp của nhà nước, trong quá trình ADPL phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. ADPL là hình thức rất quan trọng của thực hiện pháp luật, phần lớn các quy định của pháp luật chỉ có thé thực hiện trong thực tế thông qua hoạt động của các chủ thé có thâm quyên, khi có sự cam thiệp của nhà nước. Nếu không có sự cam thiệp của nhà nước thì sẽ có rất nhiều quy phạm pháp luật không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng hoặc quan hệ xã hội không thé phát sinh. Lý do có thé là các chủ thé không muốn thực hiện hoặc không đủ khả năng tự thực hiện nếu thiếu sự tham gia của chủ thê có thâm quyên.
10 Như vậy, ADPL là hoạt động có tính tô chức, quyền lực nhà nước, do các cơ quan, t6 chức hoặc cá nhân có thấm quyên tiến hành theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật hiện hành vào những trường hợp cụ thé, đối với các cá nhân, tổ chức cụ thé. + Tòa án nhân dân cấp tinh là một trong những chủ thé có thâm quyền ADPL trong giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế có chế độ sở hữu khác nhau, đã tạo điều kiện thu hút dau tư trong và ngoài nước thúc đây nền sản xuất hàng hóa nước ta phát trién. Tìm kiếm lợi nhuận trong kinh doanh không những là động lực phát triển mà còn là lý do tổn tại của hầu hết các chủ thé tham gia.
Nhưng cũng chính sự đa dạng trong hoạt động kinh doanh, đầu tư cùng với quy luật cạnh tranh mà các quan hệ kinh tế ngày càng trở nên phức tạp hơn; những mâu thuẫn phát sinh ngày càng nhiều, cạnh tranh ngày càng gay gắt, khốc liệt hơn. Biểu hiện cụ thé đó là các tranh chấp kinh doanh thương mại mà các bên không thé thỏa thuận được với nhau. Do đó, việc có một tổ chức giúp các bên giải quyết mâu thuẫn phát sinh là điều kiện quan trọng và cần thiết, để đảm bảo tâm lý và sự công bang cho các chủ thé khi tham gia kinh doanh. Ở Việt Nam hiện nay, các tranh chấp kinh doanh thương mại giải quyết bằng con đường Tòa án chiếm ty lệ lớn và TAND cấp tinh là một trong những chủ thé có thâm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại.