CHƯƠNG 1 NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC BIEN PHÁP KHAN CAP TẠM THỜI ÁP DUNG DOI VỚI TÀI SAN TRANH CHAP TRONG TO TUNG DAN SỰ VIỆT NAM 1.1 Khái niệm, đặc điểm, và ý nghĩa của các biện pháp khan cấp tam thời áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp trong tố tung dân sự Việt Nam.1 Khái niệm Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, đôi khi đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác, có nhu cầu cấp bách về việc giữ gìn tài sản đang tranh chấp hoặc để bảo vệ bằng chứng, để ngăn chặn đương sự đối lập tâu tán, hủy hoại tài sản tranh chấp hay để đảm bảo việc thi hành án. Trong trường hợp này với vai trò là cơ quan giải quyết tranh chấp, với quyền lực nhà nước Toà án cần phải có những giải pháp phù hợp dé đáp ứng nhu cầu khan cấp này. Những giải pháp phù hợp này được gọi là các biện pháp khan cấp tạm thời. Các biện pháp đặc biệt nhằm vào đối tượng là tài sản được gọi là các biện pháp khan cấp tạm thời áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp.
Trong nghiên cứu khoa học luật tố tụng dân sự, biện pháp khẩn cấp tạm thời (BPKCTT) được giải thích, định nghĩa theo nhiều phương diện khác nhau. Về mặt ngôn ngữ, BPKCTT được ghép bởi ba cụm từ “biện pháp”, “khan cấp” và “tạm thời”. Tham khảo trong các từ điển tiếng Việt thì có những giải thích giống nhau về nghĩa của các cụm từ này, cụ thể: “Biện pháp”: là một danh từ chỉ cách làm, cách thức tiến hành, các giải quyết một van dé cụ thé; “Khan cấp”: là một tính từ chỉ sự gấp gap, phải giải quyết ngay, không thé trì hoãn; “Tam thời”: là một tính từ chỉ tạm trong một khoảng thời gian ngắn, không lâu dài, ôn định [1]. Như vậy, BPKCTT được hiểu là cách thức giải quyết gấp gáp, tạm thời trong thời gian trước mắt về một vấn đề nào đó.
Điều này cũng có nghĩa là cách thức giải quyết gấp gáp, tạm thời chỉ phù hợp cho giải quyết tình thé, tình huống khan cấp của vụ việc, chưa chính thức giải quyết nội dung vụ việc và chưa phải là kết quả giải quyết cuối cùng. Trong tố tụng dân sự (TTDS), tức là trong quy trình tòa án giải quyết vụ án dân sự, BPKCTT được Toà án quyết định áp dụng khi vụ án có tình thế khân cấp như cần ngăn chặn ngay việc tâu tán, huỷ hoại tài sản, ngăn chặn ngay việc trốn tránh thi hành án dân sự. BPKCTT được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận và bao gồm nhiều biện pháp cụ thé dé đáp ứng những tình huống khan cấp khác nhau. Còn về khái niệm các BPKCTT áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp, trước tiên phải từ giải thích về thuật ngữ “tài sản”.
Tài sản “với tư cách là khách thé của quan hệ sở hữu” được xác định theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành bao gồm: rời sản là vật, tiễn, giấy tờ có giá và quyén tài sản hoặc tài sản là bắt động sản và động sản, bắt động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai [2]. Xác định theo một cách khác, tài sản là các vật có giá trị bằng tiền và là đối tượng của quyên tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm vật có thực, và vật đang tôn tại sẽ có như hoa lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyên tài sản. Như vậy, nếu xét dưới góc độ luật học thì khái niệm tài sản được nhìn nhận trong mối quan hệ với quyền sở hữu và được xem xét dưới các khía cạnh đa dạng như tải sản hữu hình, tài sản vô hình, động sản và bât động sản.
Các quan niệm về tài sản trong BLDS ở một sô nước tiêu biêu cho hệ thống pháp luật trên thế giới đều đi theo hai cách tiếp cận cơ bản, đó là tài sản được tiép cận dưới góc độ vật hay dưới góc độ quyên. Dưới góc độ vật, theo tiêu chí vật lý thì những vật mà con người có thê nhận biết được bằng các giác quan tiếp xúc là vật hữu hình, còn ngược lại là vật vô hình. Vật vô hình chính là các quyên tài sản. Như vậy, tài sản gồm có vật và quyên, có tính hữu hình và vô hình.
Dưới góc độ quyên thì cơ sở xuât phát diém của cách tiêp cận này là sự thừa nhận vật có tinh chat hữu hình, độc lập, có thê cam năm được. Việc tiêp theo của các nhà làm luật là xác định các quyên lợi của các chủ thê xoay quanh vật hữu hình đó. Tài sản có những đặc điểm như: - Thứ nhât, tài sản là những đôi tượng mà con người có thê sở hữu được. Nêu tài sản là vật hữu hình thì con người có thê năm giữ hoặc chiêm giữ được thông qua các giác quan tiêp xúc; nêu tài sản là vật vô hình thì con người phải có cách thức đê quản lý và kiêm soát sự tôn tại của chúng.
Ví dụ: Các tài sản trí tuệ phải được thể hiện trên những "vật mang" nhất định dé con người có thé nhận biết được và chủ thé sáng tạo có thé đăng ký xác lập quyên của mình tại các cơ quan nhà nước có thâm quyên. - Thứ hai, tài sản phải mang lại những lợi ích nhất định cho con người, có giá trị và trị giá được thành tiền. Ở đây, cần có sự phân biệt giữa yếu té giá trị và trị giá được thành tiền của tài sản. Tài sản có giá trị được hiểu là tài sản đó có ý nghĩa về mặt tinh thần hay có giá trị sử dụng cụ thé nào đó với mỗi chủ thé khác nhau.
Ngoài vật, tiên, giây tờ có giá thì tài sản còn được xác định là quyén tai sản. "Quyền tài san là quyên trị giá được băng tiên, bao gôm quyên tài sản doi với doi tượng quyên sở hữu trí tuệ, quyên sử dung dat và các quyên tài 10 sản khác ". Quyền tài sản hiểu theo nghĩa rộng là quyền của cá nhân, tổ chức được pháp luật cho phép thực hiện hành vi xử sự đối với tài sản của mình và yêu cầu người khác phải thực hiện một nghĩa vụ đem lại lợi ích vật chất cho mình. Xét theo ý nghĩa này thì quyền sở hữu cũng là quyền tài sản (vật quyền).
Quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ tài sản (trái quyền) cũng là quyền tài sản. Trên cơ sở quan niệm như vậy, Luật La Mã phân loại quyền tài sản (quyền dân sự) thành vật quyền và trái quyền mà không phân thành quyền tài sản và quyền sở hữu vì suy cho cùng quyén sở hữu tài sản cũng là quyền tài sản. Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền. Theo quy định này, nhà lập pháp muốn nói tới quyền đối nhân, tức là quyền của một chủ thể đối với một chủ thể khác và quyền này trị giá bằng tiền.
Vậy, thì quyên tài sản là quyền yêu cầu người khác thực hiện nghĩa vụ có giá trị bằng một khoản tiền nhất định như trả nợ, bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu người khác chuyền giao giá trị của một vật. Ví dụ: quyền yêu cau thanh toán giá tri tài sản chung. Với những đặc điểm đó trên thực tế tài sản luôn là nguyên nhân đối tượng của các tranh chấp phát sinh trong đời sống xã hội. Vẫn theo cách giải thích về mặt ngôn ngữ trong từ điển Tiếng Việt “tranh chấp” là việc giành nhau một cách giang co không rõ thuộc về bên nào.
Tranh chấp cũng có nghĩa là đấu tranh giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa hai bên. Như vậy, tài sản đang tranh chấp (tài sản là đối tượng của tranh chấp) là tài sản đang có hai hay nhiều người cùng xác nhận quyền của mình đối với tài sản đó và phủ định quyền của người kia đối với tài sản mà tài sản đó hiện không rõ thuộc về người nào. Đó có thể là tranh chấp về quyền sở hữu đối với tài sản hoặc là tranh chấp về chia di sản thừa kế, tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chong. Khi tài sản tranh chap đang được tòa án giải quyêt mà có dâu hiệu cho thây tài sản này có khả năng 11 bị tau tán, hủy hoại thì tòa án sẽ kịp thời có ngay giải pháp ngăn chặn khả năng đó xảy ra.
Như vậy, dựa trên những giải thích về các BPKCTT trong TTDS và tài sản tranh chấp trong tố tụng dân sự Việt Nam, các BPKCTT áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp trong tổ tung dân sự Việt Nam được hiéu như sau: “Các BPKCTT áp dụng doi với tài sản đang tranh chấp trong tổ tung dan sự Việt Nam là các giải pháp tạm thời được Toà án quyết định áp dụng đổi với tài sản mà các bên đang bat đồng với nhau về quyên và lợi ích theo quy định pháp luật nhằm bảo toàn tài sản đó, nhằm ngăn chặn đương sự đang giữ tài sản đó tau tán, hủy hoại tài sản dam bảo cho việc thi hành an.2 Đặc điểm Các BPKCTT áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp có những đặc điểm của các BPKCTT nói chung như sau: 1.1 Tinh khẩn cấp Các BPKCTT áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp chỉ được áp dụng trong trường hợp khan cấp. Tính khẩn cấp của các biện pháp này thé hiện ở chỗ, tòa án phải ra quyết định áp dụng ngay và quyết định này được thực hiện ngay sau khi được tòa án quyết định áp dụng, nếu không tài sản tranh chấp sẽ bi tau tán, huỷ hoại, tài sản phải thi hành án sẽ không còn dé thi hành án. Vì thé trong trường khan cấp nếu Toà án không áp dụng kịp thời các biện pháp cần thiết có thể dẫn đến những thiệt hại nghiêm trọng về tài sản không thể khắc phục được đối với một bên đương sự hoặc gây trở ngại cho việc giải quyết chính xác vụ án và cho quá trình thi hành án. Tình thế khẩn cấp được thiết lập khi quyền và lợi ích về tài sản của một bên đương sự đang bị đe doạ, đang trong tình thế cấp bách hoặc khi tài sản tranh chấp đang có 12 nguy cơ bị tâu tán.