Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Quyền có nơi ở hợp pháp là một trong những quyền cơ bản của công dân được Nhà nước ghi nhận và bảo hộ tại Khoản 1 Điều 22 Hiến pháp năm 2013: "Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp". Nhằm cụ thể hóa tinh thần hiến định, hệ thống pháp luật qua các thời kỳ đã từng bước thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh các giao dịch về nhà ở. Nhà ở là tài sản có giá trị lớn, trực tiếp phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của cá nhân và hộ gia đình. Cùng với tốc độ đô thị hóa, gia tăng dân số và sự phát triển của nền kinh tế thị trường, nhu cầu thuê và cho thuê nhà ở tại các đô thị lớn không ngừng gia tăng.

Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện giao dịch thuê nhà ở phát sinh nhiều tranh chấp phức tạp. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ này vẫn còn tình trạng thiếu ổn định, có sự chồng chéo, mâu thuẫn giữa luật chung và luật chuyên ngành, hoặc chưa bao quát hết các tình huống thực tế trong thị trường bất động sản. Xuất phát từ bối cảnh đó, đề tài "Hợp đồng thuê nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu sau:

  • Mục tiêu nghiên cứu:

    1. Làm sáng tỏ hệ thống lý luận về hợp đồng thuê nhà ở, bao gồm khái niệm, đặc điểm pháp lý, hình thức, nội dung và các tiêu chí phân loại.
    2. Đánh giá thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về hợp đồng thuê nhà ở, chỉ ra các ưu điểm, khoảng trống và điểm mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật.
    3. Phân tích thực tiễn thi hành và giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà ở tại Tòa án, làm rõ nguyên nhân của các vướng mắc pháp lý.
    4. Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm tính đồng bộ và nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp trong thực tiễn.
  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về hợp đồng thuê nhà ở, hệ thống quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ thuê nhà ở và thực tiễn áp dụng pháp luật tại Việt Nam.

  • Phạm vi nghiên cứu:

    • Về nội dung: Tập trung vào các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014 và các luật chuyên ngành liên quan như Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014, Luật Thi hành án dân sự năm 2014; đồng thời đối chiếu với các văn bản pháp luật thời kỳ trước.
    • Về thời gian: Nghiên cứu trọng tâm từ thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực thi hành đến năm 2023, có sự so sánh lịch sử với các văn bản từ năm 1945 trở đi.
    • Về không gian: Địa bàn lãnh thổ Việt Nam.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Khóa luận xây dựng hệ thống luận cứ dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật và công trình nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khung pháp lý điều chỉnh:

    • Hiến pháp năm 2013.
    • Bộ luật Dân sự năm 2015 (đối chiếu BLDS năm 1995, BLDS năm 2005).
    • Luật Nhà ở năm 2014 (đối chiếu Luật Nhà ở năm 2005, Pháp lệnh Nhà ở năm 1991).
    • Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Xây dựng năm 2014, Luật Đất đai năm 2013, Luật Công chứng năm 2014, Luật Thi hành án dân sự năm 2014.
    • Nghị định số 99/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở; các văn bản pháp lý lịch sử như Chỉ thị số 200/CT-TW (1960), Nghị định 19/CP (1960), Nghị định 115/CP (1964), Quyết định 111/CP (1977), Nghị định 56/CP (1995), Thông tư liên tịch 01/1999/TTLT-TANDTC-VKSNDTC.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các yếu tố cấu thành hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên, các điều kiện có hiệu lực của giao dịch.
    • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 với Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; so sánh quy định hiện hành với các giai đoạn lịch sử trước năm 2014.
    • Phương pháp lịch sử: Phân tích sự hình thành và biến chuyển của chính sách cải tạo nhà ở và pháp luật thuê nhà từ năm 1945 đến nay.
    • Phương pháp thống kê, khảo sát thực tiễn: Tổng hợp số liệu án lệ, thực tiễn tranh chấp và xét xử tại Tòa án nhân dân.
    • Phương pháp tư duy logic: Xâu chuỗi mâu thuẫn quy định để rút ra các kiến nghị hoàn thiện quy phạm.
  • Nguồn dữ liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ thực tiễn xét xử, các bài báo khoa học (Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Kiểm sát) và các luận văn, công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Quang Thái (2020), Lê Thị Luyến (2011), Đào Thị Phương (2010), Nguyễn Việt Cường (1996), Hoàng Tuấn Anh (2017).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hợp đồng thuê nhà ở

Chương này tập trung phân tích bản chất pháp lý của đối tượng nhà ở và quan hệ hợp đồng thuê nhà ở:

  1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại nhà ở:
    • Khái niệm: Nhà ở là công trình xây dựng được liên kết định vị với mặt đất, không di chuyển được về mặt cơ học, với công năng chính là để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt thường ngày của con người.
    • Đặc điểm: Là công trình xây dựng gắn liền với đất đai; là bất động sản có giá trị lớn; chịu sự ràng buộc khắt khe về quy hoạch, đất đai và an ninh trật tự; có tính bền vững lâu dài.
    • Phân biệt nhà ở và nhà sử dụng vào mục đích khác: Khác biệt về công dụng chính (sinh hoạt cư trú đối lập với sản xuất, kinh doanh, hội họp, văn hóa) và hệ thống văn bản áp dụng (nhà ở chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Nhà ở, trong khi nhà phục vụ mục đích khác chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng, Luật Thương mại).
Tiêu chí phân loại Các loại hình cụ thể theo quy định pháp luật
Theo chủ thể tạo lập - Nhà ở do hộ gia đình, cá nhân tạo lập.
- Nhà ở do tổ chức tạo lập (nhà ở thương mại, nhà ở xã hội).
- Nhà ở do Nhà nước đầu tư xây dựng (nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư).
Theo mục đích xây dựng - Nhà ở riêng lẻ (biệt thự, liền kề, độc lập).
- Nhà chung cư (để ở hoặc hỗn hợp).
- Nhà ở thương mại, nhà ở xã hội, nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư.
Theo kết cấu kỹ thuật - Nhà biệt thự, nhà cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và nhà tạm.
Theo mức độ hoàn thành - Nhà ở có sẵn.
- Nhà ở hình thành trong tương lai.
  1. Khái niệm và 5 đặc điểm pháp lý của hợp đồng thuê nhà ở:

    • Hợp đồng thuê nhà ở là sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên cho thuê và bên thuê, theo đó bên cho thuê chuyển giao quyền sử dụng nhà ở cho bên thuê trong một thời hạn nhất định, bên thuê có nghĩa vụ trả tiền thuê theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.
    • Tính chất song vụ: Quyền của bên cho thuê tương ứng với nghĩa vụ của bên thuê và ngược lại; các bên thực hiện nghĩa vụ song hành.
    • Tính chất có đền bù: Bên thuê nhận được quyền khai thác công dụng nơi ở, bên cho thuê nhận được khoản tiền thuê nhà tương ứng.
    • Tính chất ưng thuận: Thời điểm phát sinh hiệu lực được xác định theo thời điểm thỏa thuận hoặc thời điểm giao kết (Khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014).
    • Chịu sự điều chỉnh của nhiều lĩnh vực pháp luật: Chịu sự tác động đan xen của Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Kinh doanh bất động sản.
    • Chuyển giao quyền sử dụng tài sản: Chỉ chuyển giao quyền chiếm hữu và sử dụng có thời hạn, không chuyển giao quyền định đoạt nhà ở.
  2. Phân loại hợp đồng thuê nhà ở:

    • Theo tính xác định của thời hạn: Hợp đồng xác định thời hạn và hợp đồng không xác định thời hạn (chấm dứt sau 90 ngày kể từ khi bên cho thuê thông báo theo Điểm a Khoản 2 Điều 131 Luật Nhà ở năm 2014).
    • Theo hình thức xác lập: Xác lập bằng văn bản (đúng luật) và xác lập bằng lời nói (thực tế phổ biến với sinh viên, công nhân).
    • Theo đối tượng thuê: Thuê toàn bộ căn nhà hoặc thuê một phần căn nhà.
    • Theo chủ thể: Giữa cá nhân/pháp nhân trong nước với nhau; giữa cá nhân/pháp nhân Việt Nam với người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc tổ chức, cá nhân nước ngoài.
  3. Lịch sử phát triển pháp luật về hợp đồng thuê nhà ở tại Việt Nam:

    • Giai đoạn 1945 – 1995: Chính sách cải tạo nhà đất tư nhân (1960 – 1964) tại miền Bắc với Chỉ thị số 200/CT-TW, Nghị định 19/CP, Nghị định 115/CP ngày 29/7/1964 (khống chế khung giá thuê); chính sách cải tạo nhà đất tại miền Nam theo Quyết định 111/CP (1977); Pháp lệnh Nhà ở năm 1991.
    • Giai đoạn 1995 – 2005: Bộ luật Dân sự năm 1995 dành 13 điều (Điều 489 đến 501) quy định chế định hợp đồng thuê nhà ở; Nghị định 56/CP (1995) về người nước ngoài thuê nhà; Thông tư liên tịch 01/1999 lần đầu định nghĩa hợp đồng thuê nhà ở.
    • Giai đoạn 2005 đến nay: BLDS năm 2005 (Điều 492 – 499) và Luật Nhà ở năm 2005 tách biệt quy định; bước sang Luật Nhà ở năm 2014 và BLDS năm 2015, chế định thuê nhà ở được đưa về Luật Nhà ở điều chỉnh chuyên sâu, bãi bỏ thủ tục công chứng bắt buộc, tôn trọng thỏa thuận về giá và thời hạn.

Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật Việt Nam về hợp đồng thuê nhà ở

Chương 2 mổ xẻ các quy định pháp luật thực định đang điều chỉnh hợp đồng thuê nhà ở:

  1. Quy định về chủ thể:

    • Bên cho thuê: Cá nhân phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự (từ đủ 18 tuổi trở lên, không mất/hạn chế năng lực hành vi theo các Điều 19, 20, 22, 23, 24 BLDS năm 2015); là chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền hợp pháp. Đối với tổ chức phải có tư cách pháp nhân (Điều 74 BLDS năm 2015).
    • Bên thuê: Cá nhân trong nước không bắt buộc có đăng ký thường trú tại nơi có nhà ở giao dịch. Cá nhân nước ngoài/người Việt Nam định cư ở nước ngoài phải thuộc diện được sở hữu/nhập cảnh hợp pháp vào Việt Nam.
    • Chủ thể trong các giao dịch đặc thù:
      • Thuê nhà ở xã hội: Giới hạn nghiêm ngặt theo Khoản 1 Điều 50 Luật Nhà ở năm 2014 (người có công, hộ nghèo đô thị, công nhân, cán bộ công chức, lực lượng vũ trang).
      • Thuê nhà ở công vụ: Điều chỉnh theo Khoản 1 Điều 32 Luật Nhà ở năm 2014 và Điều 49 Nghị định 99/2015/NĐ-CP (cán bộ lãnh đạo điều động, luân chuyển từ cấp Thứ trưởng/Chủ tịch UBND cấp huyện trở lên chưa có nhà ở hoặc diện tích bình quân dưới $15\text{ m}^2\text{ sàn/người}$).
  2. Điều kiện của nhà ở tham gia giao dịch cho thuê:

    • Không thuộc diện đang có tranh chấp, khiếu nại, khiếu kiện về quyền sở hữu (Khoản 1 Điều 118 Luật Nhà ở năm 2014).
    • Không bị kê biên để thi hành án hoặc kê biên chấp hành quyết định hành chính (Điều 95 Luật Thi hành án dân sự năm 2014).
    • Không thuộc diện có quyết định thu hồi đất hoặc thông báo giải tỏa, phá dỡ (Điều 16 Luật Đất đai năm 2013, Điều 92 Luật Nhà ở năm 2014).
    • Phải bảo đảm an toàn kỹ thuật, phòng cháy chữa cháy, hệ thống cấp thoát nước, điện sinh hoạt.
  3. Giá thuê, thời hạn và quyền, nghĩa vụ của các bên:

    • Giá thuê: Do các bên tự do thỏa thuận (Điều 473 BLDS năm 2015, Điều 129 Luật Nhà ở năm 2014, Điều 15 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014). Bên cho thuê được quyền điều chỉnh giá khi cải tạo nhà ở nếu được bên thuê đồng ý.
    • Thời hạn bảo hành nhà ở của bên cho thuê: Tối thiểu 60 tháng đối với nhà chung cư; tối thiểu 24 tháng đối với nhà ở riêng lẻ kể từ ngày hoàn thành xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng.
    • Nghĩa vụ sửa chữa: Bên cho thuê chịu trách nhiệm sửa chữa hư hỏng lớn, khung, cột, dầm, sàn, tường, mái. Bên thuê chịu trách nhiệm sử dụng đúng công năng, bồi thường nếu làm hư hại và trả tiền thuê đúng hạn.
  4. Hình thức và hiệu lực của hợp đồng:

    • Hợp đồng phải được lập thành văn bản (Điều 121, Khoản 2 Điều 122 Luật Nhà ở năm 2014), không bắt buộc công chứng, chứng thực trừ khi các bên có nhu cầu.
    • Ngoại lệ công nhận hiệu lực (Điều 129 BLDS năm 2015): Nếu hợp đồng bằng văn bản không đúng quy định hoặc vi phạm điều kiện công chứng nhưng một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất $2/3$ nghĩa vụ thì Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực theo yêu cầu.

Chương 3: Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về hợp đồng thuê nhà ở và một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật

  1. Thực tiễn tranh chấp và giải quyết tranh chấp:

    • Các dạng tranh chấp phổ biến: Bên thuê chậm thanh toán hoặc không thanh toán tiền nhà; bên cho thuê đơn phương chấm dứt hợp đồng trái luật; tranh chấp về chi phí tu bổ, sửa chữa hư hỏng tài sản; tranh chấp về việc lấy lại nhà khi hết hạn hoặc khi phát sinh nhu cầu đột xuất; tranh chấp hợp đồng vô hiệu do giao kết bằng lời nói hoặc người cho thuê không có quyền định đoạt/ủy quyền hợp pháp.
    • Thực trạng xét xử: Tòa án gặp khó khăn trong việc xác định phạm vi xét xử phúc thẩm (theo phản ánh trên Tạp chí Kiểm sát 2019); thời gian giải quyết kéo dài gây thiệt hại lớn cho bên cho thuê khi bên thuê chây ì không bàn giao mặt bằng; vướng mắc trong việc thẩm định giá thị trường đối với các hợp đồng không ghi rõ giá thuê hoặc phát sinh bồi thường.
  2. Các bất cập, xung đột pháp luật được tác giả chỉ ra:

    • Xung đột về điều kiện giấy tờ nhà ở: Luật Nhà ở năm 2014 quy định nhà ở cho thuê không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu, trong khi Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại yêu cầu nhà ở đưa vào kinh doanh cho thuê phải có giấy chứng nhận quyền sở hữu theo quy định.
    • Bất cập về tính khả thi của chế định chấm dứt hợp đồng: Quy định chấm dứt hợp đồng khi bên thuê không đạt được mục đích thuê (tồn tại từ BLDS 2005) khó áp dụng; quy định thông báo trước 90 ngày trong hợp đồng không xác định thời hạn đôi khi không tương thích với các chu kỳ kinh doanh ngắn hạn.
  3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật:

    • Sửa đổi, chuẩn hóa quy định thống nhất giữa Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản về điều kiện chứng minh quyền sở hữu của bất động sản cho thuê.
    • Ban hành các biểu mẫu hợp đồng thuê nhà ở chuẩn và quy định chi tiết trách nhiệm bảo trì, khấu hao tài sản nhằm giảm thiểu tranh chấp do hợp đồng soạn thảo sơ sài.
    • Xây dựng quy trình rút gọn trong thủ tục tố tụng dân sự đối với tranh chấp đòi lại nhà cho thuê khi bên thuê vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thanh toán.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:

    • Làm sáng tỏ hệ thống hóa 5 đặc điểm bản chất của hợp đồng thuê nhà ở (song vụ, có đền bù, ưng thuận, đa lĩnh vực điều chỉnh, chuyển quyền sử dụng).
    • Khái quát toàn diện tiến trình lịch sử pháp luật từ năm 1945 qua 3 mốc cải cách lớn (1945–1995, 1995–2005, 2005–nay), làm rõ sự dịch chuyển từ cơ chế bao cấp, khống chế giá sang cơ chế thị trường tôn trọng tự do thỏa thuận.
    • Phân tích chi tiết quy định pháp thực định về thời hạn bảo hành công trình bắt buộc ($60\text{ tháng}$ với chung cư, $24\text{ tháng}$ với nhà riêng lẻ) và quy chuẩn diện tích nhà công vụ ($< 15\text{ m}^2\text{ sàn/người}$).
  • Đóng góp so với các công trình trước:

    • Khắc phục tính lỗi thời của các công trình nghiên cứu giai đoạn trước (như luận văn của Nguyễn Việt Cường năm 1996 dựa trên Pháp lệnh Nhà ở 1991, hay khóa luận của Đào Thị Phương năm 2010 dựa trên Luật Nhà ở 2005).
    • Trực tiếp đối chiếu và chỉ ra xung đột pháp lý giữa Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 về điều kiện Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở khi tham gia giao dịch cho thuê.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi dữ liệu và giải pháp của khóa luận giới hạn trong các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực tại thời điểm nghiên cứu (Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014); chưa so sánh sâu với pháp luật dân sự của các quốc gia trên thế giới.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn thi hành và những điểm mới của các đạo luật sửa đổi tiếp theo (như Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản sửa đổi trong các giai đoạn mới) đối với chế định hợp đồng thuê nhà ở.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Kinh tế, Luật Đất đai làm tài liệu tham khảo cho các học phần Hợp đồng dân sự và Pháp luật kinh doanh bất động sản.
    • Người nghiên cứu các chuyên đề về tranh chấp hợp đồng thuê tài sản.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng phân tích các tiêu chí phân loại nhà ở và phân loại hợp đồng tại Chương 1.
    • Hệ thống luận điểm làm rõ sự mâu thuẫn về điều kiện giao dịch giữa Luật Nhà ở và Luật Kinh doanh bất động sản tại Chương 2.
    • Các căn cứ pháp lý về điều kiện có hiệu lực và thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng thuê nhà.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khóa luận xác định hợp đồng thuê nhà ở có những đặc điểm pháp lý cơ bản nào?
    Khóa luận chỉ rõ hợp đồng thuê nhà ở mang 5 đặc điểm pháp lý: (1) Hợp đồng song vụ; (2) Hợp đồng có đền bù; (3) Hợp đồng ưng thuận; (4) Chịu sự điều chỉnh phối hợp của nhiều ngành luật (dân sự, nhà ở, đất đai, xây dựng, KDBĐS); (5) Hợp đồng có mục đích chuyển giao quyền sử dụng tài sản (không chuyển giao quyền định đoạt).

  2. Quy định về hình thức và công chứng hợp đồng thuê nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 có điểm gì khác so với quy định trước đây?
    Theo BLDS năm 2005 và Luật Nhà ở năm 2005, hợp đồng thuê nhà ở có thời hạn từ 6 tháng trở lên bắt buộc phải công chứng, chứng thực. Đến Luật Nhà ở năm 2014 (Khoản 2 Điều 122), hợp đồng thuê nhà ở bắt buộc phải lập thành văn bản nhưng không bắt buộc phải công chứng, chứng thực, trừ khi các bên có thỏa thuận yêu cầu.

  3. Trong trường hợp hợp đồng thuê nhà ở không xác định thời hạn, quyền chấm dứt hợp đồng được thực hiện như thế nào?
    Theo Điểm a Khoản 2 Điều 131 Luật Nhà ở năm 2014, đối với hợp đồng thuê nhà ở không xác định thời hạn, hợp đồng sẽ chấm dứt sau 90 ngày kể từ ngày bên cho thuê nhà ở thông báo cho bên thuê nhà ở biết việc chấm dứt hợp đồng.

  4. Khóa luận chỉ ra mâu thuẫn trực tiếp nào giữa Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014?
    Khóa luận chỉ ra sự chồng chéo: Luật Nhà ở năm 2014 quy định nhà ở cho thuê không bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu; trong khi đó, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quy định nhà ở đưa vào kinh doanh cho thuê bắt buộc phải có Giấy chứng nhận quyền sở hữu theo quy định.

  5. Thời hạn bảo hành công trình nhà ở của bên cho thuê được pháp luật quy định tối thiểu là bao lâu?
    Căn cứ quy định pháp luật được trích dẫn trong khóa luận, thời hạn bảo hành tính từ khi hoàn thành xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng tối thiểu là 60 tháng đối với nhà chung cư và tối thiểu là 24 tháng đối với nhà ở riêng lẻ.


Kết luận

Khóa luận "Hợp đồng thuê nhà ở theo quy định của pháp luật Việt Nam" của tác giả Trần Thị Minh Tâm đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, quá trình phát triển lập pháp và thực trạng quy định điều chỉnh quan hệ thuê nhà ở tại Việt Nam. Công trình chỉ rõ những bất cập, mâu thuẫn cụ thể giữa Bộ luật Dân sự, Luật Nhà ở năm 2014 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 trong việc xác định điều kiện chủ thể, đối tượng và hình thức hợp đồng. Các kiến nghị được đề xuất trong công trình là cơ sở khoa học thiết thực nhằm hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật và nâng cao tính minh bạch, an toàn pháp lý cho các giao dịch nhà ở trên thực tiễn.