chương I, điều 2: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này”. Còn theo luật Đầu tư mới 2005 tại điều 3, khoản 12 chỉ quy định: Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư. Định nghĩa về FDI của Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng cụ thể và phải tham chiếu tới toàn bộ các điều khoản của Luật. Nói chung, có thể đưa ra một cách hiểu khái quát nhất về FDI như sau: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài” tại một quốc gia là hình thức mà nhà đầu 2 Nguyễn T.
Kim Nhã-2005-Giải pháp tăng cường thu hút FDI ở Việt Nam- Luận án tiến sỹ kinh tế 3 Chu Thị Hằng-P2K40E-2005-Thực trạng và giải pháp đối với FDI vào ngành du lịch Việt Nam-Khóa luận tốt nghiệp ĐHNT. 4 Chu Thị Hằng-P2K40E-2005-Thực trạng và giải pháp đối với FDI vào ngành du lịch Việt Nam-Khóa luận tốt nghiệp ĐHNT. 5 Nguyễn Thị Huyền Trang Anh1-K42A-KT&KDQT tư ở một nước khác đưa vốn bằng tiền hoặc bất kì tài sản nào vào quốc gia đó, là nước tiếp nhận đầu tư để có quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục đích thu được lợi nhuận từ hoạt động đầu tư đó, dựa trên cơ sở tuân theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài của nước sở tại. Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài trên thế giới Thực chất, tùy vào từng nước, FDI lại được phân chia thành các hình thức khác nhau.
Nhưng nhìn chung, các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Pháp…hay các tổ chức kinh tế quốc tế như OECD, UNCTAD phân chia FDI theo các tiêu chí sau: Theo hướng đầu tư Dòng vốn đầu tư vào (Inward đôi khi còn gọi là Inflow): là khi vốn từ nước ngoài được đầu tư vào các nguồn lực của một quốc gia. Dòng vốn đầu tư ra (Outward hay Outflow): là khi vốn trong nước mang đi đầu tư vào các nguồn lực của các quốc gia khác. Theo mục tiêu Theo tiêu chí phân loại này thì FDI được chia làm 2 loại: Đầu tư mới (Greenfield Investment) và Sát nhập và mua lại (M&As: Mergers and Acquisitions) Đầu tư mới (Greenfield Investment) Có thể hiểu một cách khái quát đây là hình thức chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xây dựng các doanh nghiệp mới, có thể là hoạt động đầu tư vào máy móc công nghệ hoàn toàn mới, hoặc mở rộng quy mô của hệ thống đã có từ trước.5 Doanh nghiệp mới được thành lập có thể là Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, Doanh nghiệp liên doanh, Hợp tác kinh 5 http://en.org/wiki/Foreign_direct_investment 6 Nguyễn Thị Huyền Trang Anh1-K42A-KT&KDQT doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh, Công ty cổ phần, Công ty Holding (hay còn gọi là công ty Mẹ-con), Công ty hợp danh hoặc Chi nhánh nước ngoài…Hình thức đầu tư này được các nước nhận đầu tư hết sức chú trọng và ưu ái do nó mang lại cho nước chủ nhà nhiều lợi ích như: tạo ra công ăn việc làm cho lao động trong nước, tăng năng suất lao động, tiếp nhận được nhiều công nghệ và bí quyết mới và cũng là cầu nối để tiếp cận với thị trường toàn cầu. Do đó, các nước đang phát triển thường đưa ra các hỗ trợ về mặt chính sách, thuế quan và các biện pháp hỗ trợ khác để khuyến khích hình thức đầu tư này.
Bên cạnh đó, nó cũng mang đến một số vấn đề sau: mất thị phần cho các công ty nước ngoài hay gây khó khăn cho các nhà sản xuất trong nước. Sát nhập và mua lại (M&As) Là hoạt động đầu tư bằng cách chuyển giao những tài sản có sẵn từ công ty mẹ sang cho các công ty khác ở nước ngoài.6 Nó bao gồm hai hoạt động: mua lại và sáp nhập. Đầu tư mua lại xảy ra khi quyền kiểm soát tài sản và hoạt động kinh doanh được chuyển giao toàn bộ từ công ty trong nước cho công ty nước ngoài, công ty trong nước lúc ấy đóng vai trò là một chi nhánh của công ty nước ngoài. Không giống như hình thức đầu tư mới, hoạt động đầu tư này dường như không mang lại lợi nhuận cho nền kinh tế nước chủ nhà trong giai đoạn đầu.
Đầu tư sáp nhập là hình thức đầu tư xảy ra khi tài sản và hoạt động của các doanh nghiệp từ các nước khác nhau được góp chung lại để tạo ra một thực thể kinh doanh mới. Hình thức mua lại và sáp nhập hiện nay đã trở thành hình thức phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất trên thế giới. Cho đến nay, hình thức M&As được ưa chuộng hơn trên thế giới và không ngừng tăng về số lượng các vụ sáp nhập và mua lại cũng như tổng giá trị đóng góp trong tổng FDI của thế giới.org/wiki/Foreign_direct_investment 7 Nguyễn Thị Huyền Trang Anh1-K42A-KT&KDQT Các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam Tại Việt Nam, FDI lại được phân chia thành các hình thức hoàn toàn khác. Trong Luật đầu tư mới 2005, các hình thức FDI chỉ được chia ra làm các loại như sau: đầu tư thành lập tổ chức kinh tế, đầu tư theo hợp đồng, đầu tư phát triển kinh doanh, góp vốn mua cổ phần và sáp nhập, mua lại.
Đầu tư trực tiếp theo luật Việt Nam bao gồm các loại sau: Thành lập tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài - Theo Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi bổ sung của Việt Nam ban hành ngày 9/06/2000, quy định tại điều 2, khoản 8: “Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài” là doanh nghiệp do nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn tại Việt Nam. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân, hoạt động dưới sự điều hành quản lý của chủ đầu tư nước ngoài nhưng phải tùy thuộc vào các điều kiện của môi trường kinh doanh: chính trị, kinh tế, luật pháp, văn hóa…của nước sở tại. Tại Việt Nam, hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thừa nhận với tư cách pháp nhân và dưới hình thức là công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Thành lập tổ chức quốc tế liên doanh trong nước và nước ngoài Theo Luật Đầu tư nước ngoài sửa đổi bổ sung của Việt Nam ban hành ngày 9/06/2000, quy định tại điều 2, khoản 7 có cho biết: “Doanh nghiệp liên doanh” là doanh nghiệp do hai bên hoặc nhiều bên hợp tác thành lập tại Việt Nam trên cơ sở hợp đồng liên doanh hoặc hiệp định kí giữa Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nước ngoài hoặc là doanh nghiệp do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hợp tác với doanh nghiệp Việt Nam hoặc do doanh nghiệp liên doanh hợp tác với nhà đầu tư nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh.
Liên doanh là một hình thức tổ chức kinh doanh mang tính chất quốc tế 8 Nguyễn Thị Huyền Trang Anh1-K42A-KT&KDQT hoạt động trên cơ sở sự đóng góp của các bên về vốn, quản lý lao động cũng như cùng chịu rủi ro có thể xảy ra. FDI được sử dụng dưới hình thức này mang lại lợi ích cho cả nước đầu tư cũng như nước tiếp nhận đầu tư. Đối với nước tiếp nhận đầu tư thì các doanh nghiệp liên doanh ngoài việc giải quyết được tình trạng thiếu vốn còn mang lại nhiều công ăn việc làm cho người lao động, giúp người lao động có cơ hội tiếp cận và học hỏi các công nghệ, máy móc thiết bị tiên tiến trên thế giới. Đối với chủ đầu tư, đây là một hình thức kinh doanh giúp họ tận dụng được tối đa những cơ sở kĩ thuật, hệ thống khách hàng, phân phối có sẵn của đối tác nước nhận đầu tư.
Hơn thế nữa, việc hình thành doanh nghiệp liên doanh cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài bởi họ không bị hạn chế trong một số lĩnh vực như đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Nhờ đầu tư vào loại hình này, các nhà đầu tư nước ngoài tận dụng được thị trường sẵn có của đối tác, không mất thêm chi phí nghiên cứu và khảo sát, thiết lập mối quan hệ. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra một số khó khăn cho cả hai phía. Trước hết đối với chủ đầu tư thì việc định giá tài sản vốn góp cũng như quyền chủ động trong những quyết định kinh doanh còn là trở ngại.
Đối với nước nhận đầu tư cũng gặp khó khăn trong việc đàm phán các vấn đề của công ty với chủ đầu tư nước ngoài, đôi khi còn bị lệ thuộc vào công ty mẹ. Hình thức hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh Luật Đầu tư 2005, điều 3, khoản 16 định nghĩa: Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phảm mà không thành lập pháp nhân. Loại hình này khác với Doanh nghiệp liên doanh bởi các bên hợp doanh phải chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ. Các bên kí kết hợp đồng hợp 9 Nguyễn Thị Huyền Trang Anh1-K42A-KT&KDQT tác kinh doanh này trong quá trình hoạt động có thể thành lập ban điều phối để theo dõi, giám sát việc thực hiện hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Việc phân chia kết quả kinh doanh phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn hoặc theo thỏa thuận giữa các bên. Đồng thời, các bên hợp doanh thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với nước sở tại một cách độc lập riêng rẽ. Hình thức này cũng được sử dụng phổ biến bởi nó giúp cho nước tiếp nhận vốn giải quyết được tình trạng thiếu vốn và công nghệ, tạo thị trường mới nhưng vẫn đảm bảo được an ninh quốc gia và nắm quyền điều hành dự án. Còn đối với chủ đầu tư thì nhận được sự thông thoáng trong việc đầu tư vào các lĩnh vực truyền thống của nước chủ nhà, không bị tác động lớn do khác biệt về văn hóa kinh doanh, chia sẻ được chi phí và rủi ro đầu tư.
Tuy nhiên, việc không được trực tiếp quản lý điều hành dự án cũng là một e ngại đối với các nhà đầu tư. Đầu tư theo hợp đồng B.