Chương 1: Một số van dé lý luận về tài sản bảo dam Chương 2: Thực trạng pháp luật Việt Nam về tài sản bảo đảm Chương 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về tài sản bảo đảm và một số kiến nghị, giải pháp hoàn thiện CHUONG 1: MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE TÀI SAN BAO DAM 1. Khái niệm, đặc điểm của tài sin bảo dam 1. Khái niệm tài sản bảo đảm Trước hết về khái niệm tài sản, tài sản vẫn được hiểu chung là các của cải, công cụ được sử dụng vào các mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng phục vụ lợi ích cho con người và do đó được con người hướng tới chiếm hữu, sử dụng và định đoạt.! Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Tài sản là của cải vật chất dùng vào muc dich san xuất hoặc mục dich tiêu ding’. Bộ luật Dan sự Việt Nam trên cơ sở vận dụng có chọn lọc những thành tựu của các hệ thông pháp luật tiên tiễn trên thế giới, đồng thời kế thừa có sáng tạo trong quá trình phát triển của mình qua các thời kỳ đã quy định tại Điều 105 như sau: “Tai san là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
Tài sản bao gém bat động sản và động sản. Bắt động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” Theo quy định này, tài sản được liệt kê khép kin chỉ tồn tại ở một trong bốn hình thái là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyên tài sản. Đối với thuật ngữ tài sản bảo đảm, đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau về tài sản bảo đảm. Có thể hiểu khái niệm này là sự cam kết bằng tài sản của bên này đối với bên kia về sự chắc chắn của một vấn đề cụ thé.
Mat khac, tai san bao dam con duoc hiểu là loại tài sản có vai trò tac động, làm cho một người buộc phải thực hiện một công việc nhất định, nếu không sẽ phải chịu hậu quả bắt lợi, ví dụ như bên vay phải giao cho bên cho vay một tài sản, bao giờ trả hết nợ thì được nhận lại tài sản đó.3 Trên cơ sở đó, tài sản bảo đảm được tiếp cận dưới hai góc độ khác nhau: Thứ nhất, tiếp cận dưới góc độ là đối tượng của hợp đồng bảo dam, ở đây chính là tài sản bảo đảm. Bởi lẽ, chỉ có tài sản bảo đảm mới đáp ứng được các điều kiện cơ bản của đối tượng hợp đồng là tài sản, có tính cụ thể, tính xác định, có thé chuyển giao trong ! Trần Thi Minh (2021), Ban về khái niệm tài sản và tặng cho tai sản theo pháp luật Việt Nam, Tạp chí Công thương, https://tapchicongthuong. vn/ban-ve-khai-niem-tai-san-va-tang-cho-tai-san-theo-phap-luat-viet-nam-, truy cập ngày 26/1/2025. 2 Từ điển Bách khoa Việt Nam (2010), Nxb.
Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 127. 3 Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam tập II, Nxb. 10 các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa thực sự phản ánh đầy đủ bản chất của tài sản báo đảm, bới lẽ không phải moi tài san có thé định đoạt đều có thé trở thành tài sản bảo đảm.
Một số quyền tài sản như quyền đòi nợ, quyền khai thác tài nguyên. du không phải là tài sản hữu hình nhưng vẫn có thể được sử dụng dé bao dam nghĩa vụ. Hơn nữa, một số tài sản hình thành trong tương lai có thể đáp ứng điều kiện của tài sản bao dam dù chưa tồn tại tại thời điểm giao kết hợp đồng bảo dam. Như vậy, quan điểm này có phan thiên về cách hiểu tài sản bảo đảm theo nghĩa hẹp và chưa làm rõ sự khác biệt giữa tài sản bảo đảm và tài san thông thường trong giao dich dân sự.
Thứ hai, đưới góc độ là phương tiện dé bảo đảm quyền lợi cho bên nhận bao dam. Nếu quyền trên tài san bảo dam được đăng ký sẽ là co sở cho bên nhận bảo đảm công khai quyền của mình trên tài sản và khi cần bao đảm quyền thì bên nhận bao dam có thé thực hiện các quyền của mình theo quy định của pháp luật lên tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, cách tiếp cận này chưa đề cập đến vai trò của tài san bảo đảm trong mối quan hệ giữa bên bao dam và bên nhận bảo đảm. Việc bao đảm nghĩa vụ không chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi của bên nhận bảo đảm mà còn phải đảm bảo cân băng lợi ích giữa các bên và tuân thủ nguyên tắc thiện chí trong giao dịch.
Hơn nữa, không phải mọi tài san bảo dam đều phải đăng ký quyền, chăng hạn như biện pháp bảo đảm bang cầm cố không bắt buộc đăng ký nhưng vẫn có giá trị pháp lý. Do đó, quan điểm này có phần thiên về lợi ích của bên nhận báo dam mà chưa bao quát được đầy đủ ban chất của tài sản bảo đảm trong hệ thống pháp luật về giao dịch bảo đảm. Khi kết hợp cả hai quan điểm này với nhau chúng ta có thé rút ra rằng: “Tai sản bao dam là vật hoặc quyền được các chủ thé thỏa thuận lựa chọn dé bảo dam quyền của bên nhận bảo đảm khi có sự vi phạm nghĩa vụ được bảo đám ”°. Khái niệm trên tuy đã kết hợp được hai góc độ về tài sản bảo dam nhưng vẫn chưa hoàn toàn đầy đủ.
Cụ thé, khái niệm này chưa bao quát hêt các loại tài sản bảo đảm khi chỉ đê cập đên “vật hoặc *# Phạm Văn Tuyết và Lê Kim Giang (2015), Hoàn thiện chế định bảo đảm thực hiện nghĩa vu dan sự, Nxb. Dân trí, tr 69, 70. 11 quyền” mà chưa làm rõ các loại tài sản khác như: tài sản hình thành trong tương lai, giấy tờ có giá,.có được xem là tài sản bảo đảm hay không. Dưới góc độ pháp luật Việt Nam, hiện nay chưa có quy định cụ thể trong các VBQPPL về khái niệm TSBĐ, các VBPL chỉ liệt kê những loại tài sản được coi là tài sản bảo đảm.
Ví dụ tại Nghị định 21/2021/NĐ-CP quy định thi hành BLDS về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, các loại TSBĐ bao gồm: “Tài sản hiện có hoặc tài sản hình thành trong tương lai, trừ trường hợp Bộ luật Dân sự, luật khác liên quan cam mua bán, cam chuyển nhượng hoặc cam chuyển giao khác về quyền sở hữu tại thời điểm xác lập hợp dong bảo đảm, biện pháp bảo dam; Tài sản bán trong hợp dong mua bán tài sản có bảo lưu quyên sở hữu; Tài sản thuộc đổi tượng của nghĩa vụ trong hợp đông song vu bị vi phạm đối với biện pháp cam giữ; Tai sản thuộc sở hữu toàn dân trong trường hợp pháp luật liên quan có quy định. "Š Như vậy có thé thay răng các nhà làm luật đã không đưa ra khái niệm của TSBĐ một cách cụ thể nhưng đã cho biết rõ những loại tài sản nào có thé được coi là TSBD, việc liệt kê cụ thé cho thấy nhà làm luật đã bỏ qua vai trò của TSBĐ mà chú ý đến sự tồn tại của TSBĐ.5 Kết hợp giữa các quan điểm khác nhau về tài sản bảo đảm, các quy định của pháp luật về TSBĐ, quan điểm của sinh viên về khái niệm tài sản bảo dam như sau: "Tai san bảo đảm là tài sản, bao gom cả tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai, ma pháp luật không cam giao dich, được bên bao dam sứ dung dé bao dam thuc hién nghia vu cua mình hoặc của người khác đối với bên nhận bảo dam thông qua các biện pháp bảo đảm, có thé đăng ký để xác lập quyên đối kháng với bên thứ ba. Đặc điểm tài sản bảo đâm Thứ nhất, tài sản bảo đảm là đối tượng chủ yếu của các biện pháp bảo đảm. Đặc điểm này tồn tại bởi lẽ tài sản bảo đảm trong gần như moi trường hợp sẽ đóng vai trò trung tâm trong các biện pháp bảo đám vì nó là cơ sở để thực hiện quyền và nghĩa vụ 5 Điều 8 Nghị định 21/2021/NĐ-CP.
; - ; Š Bùi Minh Đức (2021), Xứ li tài sản bảo đảm thông qua bán đâu giá và thực tiên tại Công ty Đầu giá Hợp danh Thành Hưng, luận văn thạc sĩ Luật học, tr 7. Việc xác lập tài sản bảo đảm không chỉ nhằm bảo vệ lợi ích của bên có quyền mà còn là công cụ dé dam bao nghĩa vụ được thực hiện đúng va đầy du. Tinh chat cốt lõi của tai sản bảo đảm thé hiện ở chỗ nó là điều kiện tiên quyết dé các biện pháp bảo dam phát huy hiệu quả, đồng thời tạo ra cơ chế pháp lý rõ ràng cho việc xử lý khi nghĩa vụ bị vi phạm. Hơn nữa, tài sản bao đảm là yếu té làm tăng sự tin cậy trong các quan hệ pháp lý, đặc biệt trong các giao dịch có giá trị lớn.
Việc có tài sản bảo đảm không chỉ là sự cam kết trách nhiệm của bên có nghĩa vụ mà còn là cơ sở dé bên nhận bảo đảm an tâm về khả năng thu hồi nghĩa vụ. Vì vậy, tài sản bảo đảm không chỉ mang ý nghĩa vật chất mà còn thê hiện y nghĩa pháp ly sâu sắc, tạo sự cân bằng về quyền lợi giữa các bên trong giao dịch. Thứ hai, tài sản bao dam phải có giá trị và trị giá được thành tién. Giá trị của tài sản bảo đảm chính là thước đo dé xác định khả năng thanh toán nghĩa vụ khi phát sinh vi phạm.
Tính chất này giúp tài sản bảo đảm trở thành phương tiện thực hiện nghĩa vụ, dam bảo rằng bên có quyền có thé thu hồi phần nghĩa vụ chưa được thực hiện thông qua việc xử lý tài sản. Việc tài sản bảo đảm phải trị giá được thành tiền có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn, vì nó cho phép chuyền đổi tài sản thành giá trị vật chất cụ thé dé thực thi quyén của bên nhận bảo đảm. Ngoài ra, tính chất này cũng giúp dam bảo tính khả thi va hiệu qua khi áp dung các biện pháp bảo đảm bởi lẽ néu tài sản bao đảm không có giá trị hoặc không thé xác định được bằng tiền, biện pháp bao đảm sẽ mất di tính thực tế, dẫn đến khó khăn trong quá trình xứ lý. Do đó, tài sản bảo đảm không chỉ là một đối tượng pháp lý trừu trong mà phải gắn liền với giá trị kinh tế cụ thể nhằm bảo vệ lợi ích của các bên tham gia giao dịch.
Thứ ba, tài sản bảo dam phải là tài sản có thé chuyển nhượng. Tính có thé chuyên nhượng của tài sản bảo đảm phản ánh khá nang thực hiện quyền của bên nhận bảo dam khi xử lý tài sản.