Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp. Chương 2: Thiết kế luận văn và phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Thực trạng công tác đãi ngộ nhân sự tại Công ty cổ phần bất động sản Hải Phát. Chương 4: Một số giải pháp hoàn thiện công tác đãi ngộ nhân sự tại Công ty cổ phần bất động sản Hải Phát.
4 z CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHI N CỨU VÀ CƠ SỞ L LUẬN VỀ ĐÃI NGỘ NHÂN SỰ TRONG DOANH NGHI P 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Brian Tracy (người dịch: Trương Hồng Dũng – Trương Thảo Hiền) (2011), “Bí quyết tuyển dụng và đãi ngộ người tài”, NXB Tổng hợp TP Hồ Chí Minh đã chỉ ra những bí quyết trong việc thu hút và giữ chân những nhân sự có chất lượng, họ là tài sản quý của doanh nghiệp và có tác động rất lớn tới sự thành công của doanh nghiệp. Một trong những nguyên tắc quan trọng để các công ty hàng đầu trên thế giới chiêu mộ và giữ chân nhân tài là xây dựng các chế độ đãi ngộ tốt, cùng với các cơ hội thăng tiến và môi trường làm việc tốt.
Ở đây gồm cả những đãi ngộ về tài chính và những đãi ngộ phi tài chính. Điều này đòi hỏi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải thực sự quan tâm tới người lao động. Cần phải đầu tư thời gian cho việc xây dựng chính sách, tổ chức triển khai thực hiện và cuối cùng là xem xét, đánh giá công tác đãi ngộ nhân sự để có những điều chỉnh cho phù hợp. Tác giả cũng đưa ra những ví dụ cụ thể về công tác đãi ngộ nhân sự của các doanh nghiệp hàng đầu trên thế giới, đồng thời nêu ra những ưu điểm và hạn chế của từng chính sách đãi ngộ để các nhà quản lý có thể tham khảo và áp dụng cho thực tiễn tại doanh nghiệp mình.
Dave Ulrich, Michael Losey, Sue Meisinger (người dịch: Nguyễn Thị Thu Hương, Nguyễn Trường Phú, Tôn Nữ Quỳnh Như) (2011), “Tương lai của nghề quản trị nhân sự”, NXB Thời đại, Hà Nội đã đề cao tầm quan trọng của nhân sự và công tác đãi ngộ nhân sự trong doanh nghiệp để thu hút được những nhân sự có chất lượng, từ đó nâng cao năng suất lao động và tạo ra lợi thế cạnh trong cho doanh nghiệp. Các nhà quản lý cần phải dự đoán được nhu 5 z cầu và xu hướng nhân sự trong tương lai để từ đó đưa ra những phương pháp quản trị hiện đại và những chính sách, chế độ đãi ngộ nhân sự phù hợp nhằm thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởng của doanh nghiệp. Ivancevich (người dịch: Võ Thị Phương Oanh) (2010), “Quản trị nguồn nhân lực”, NXB McGraw-Hill và NXB Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh đã đề cao tầm quan trọng của quản trị nguồn nhân lực trong sự thành công của doanh nghiệp. Quản trị nguồn nhân lực là một chức năng chiến lược, chi phối sự thành công của công ty.
Nếu không có quản trị nguồn nhân lực thì không cần phải có các hệ thống quản lý và các kế hoạch khác. Điều đó để thấy quản trị nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng hàng đầu đối với doanh nghiệp, trong đó lấy con người làm trung tâm, trọng tâm, nếu không có họ thì tất cả các chính sách và kế hoạch đều là vô nghĩa. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực mà doanh nghiệp cần phải có lộ trình xây dựng chính sách về nhân sự, triển khai thực hiện một cách linh hoạt và thường xuyên kiểm tra, xem xét liên tục để có những điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với từng thời điểm cụ thể, từ đó nâng cao năng suất và hiệu quả lao động. Ngoài những nghiên cứu trên, các học thuyết về quản trị nhân sự, nhu cầu thúc đẩy con người đã để lại giá trị to lớn cho toàn nhân loại, thiết lập tiền đề vững chắc cho những nghiên cứu về đãi ngộ nhân sự về sau, ví dụ như thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg, thuyết công bằng của John Stacy Adams, tháp nhu cầu của Abraham Maslow.
Các học thuyết này nghiên cứu về tâm lý con người, những nhu cầu, mong muốn, kỳ vọng của con người nói chung và người lao động xét trong môi trường doanh nghiệp nói riêng. Hiểu rõ về đối tượng nghiên cứu, các chính sách đãi ngộ doanh nghiệp đưa ra sẽ 6 z chính xác và đúng trọng tâm hơn. Đây cũng chính là khung lý thuyết và khái niệm cơ bản của toàn bộ luận văn. Tình hình nghiên cứu trong nước Trần Kim Dung (2012), “Quản trị nguồn nhân lực”, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh đã trình bày những vấn đề quan trọng nhất để cải thiện và duy trì hiệu quả làm việc của người lao động.
Đó là những vấn đề như: đánh giá hiệu quả công việc, phúc lợi liên quan tới lương, thưởng…khuyến khích nhân viên tham gia vào công tác quản lý doanh nghiệp, khuyến khích các chương trình giao tiếp nhân sự nhằm tạo môi trường làm việc thoải mái, năng động, góp phần cải thiện môi trường làm việc của CBNV trong công ty. Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012), “Quản trị nhân lực”, NXB Đại học Kinh tế quốc dân đã trình bày khá cụ thể về công tác đãi ngộ nhân sự trong tổ chức. Theo đó, công tác đãi ngộ nhân sự nhằm mục đích thu hút nhân tài, củng cố lòng trung thành của người lao động và hạn chế tối đa việc người lao động nghỉ việc hoặc chuyển qua làm việc cho các đối thủ. Các tác giả cũng cung cấp những kiến thức được hệ thống hóa về quản trị nhân sự trong tổ chức như: Chính phủ, các tổ chức về giáo dục sự nghiệp, các tổ chức về vui chơi giải trí, các tổ chức bảo vệ sức khỏe và các tổ chức xã hội khác.
Các tác giả đặc biệt chú ý tới quá trình quản trị nhân sự từ khi người lao động bước chân vào tổ chức cho tới khi ra khỏi quá trình lao động của tổ chức. Hoàng Văn Hải, Vũ Thùy Dương (2010), “Quản trị nhân lực”, NXB Thống Kê đã chỉ rõ đãi ngộ nhân sự là một nội dung quan trọng trong quản trị nhân sự. Đãi ngộ nhân sự tác động trực tiếp tới động lực làm việc của người lao động và qua đó tác động tới hiệu quả và năng suất lao động của tổ chức. Trong cuốn giáo trình này, các tác giả đã tiếp cận quản trị nhân sự dưới góc độ văn hóa dân tộc.
Đãi ngộ nhân sự được trình bày chi tiết tại chương 5 với 7 z các nội dung: tầm quan trọng của đãi ngộ nhân sự; các hình thức đãi ngộ nhân sự và tổ chức công tác đãi ngộ nhân sự. Vũ Thị Phương Mai (2012), “Đổi mới chính sách đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao, tạo động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo tinh thần Đại hội XI của Đảng”, Tạp chí Cộng sản điện tử, số tháng 9. Để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, nhà nước cần đổi mới chính sách đãi ngộ nhân sự đối với nhân sự chất lượng cao theo tinh thần của Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về phát triển nguồn nhân sự. Bài viết chỉ ra những bất cập trong thời gian qua khi mà chúng ta chưa giải quyết được mối quan hệ giữa việc đào tạo, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân sự.
Bấy lâu nay chúng ta đã quá chú trọng tới đầu vào, tức là quá trình giáo dục đào tạo mà chưa thực sự quan tâm đúng mức tới đầu ra, đó là chính sách sử dụng và đãi ngộ thích đáng với nguồn nhân lực chất lượng cao. Hoàng Văn Hải và cộng sự (2011), “Đổi mới chính sách đãi ngộ nhân sự của các doanh nghiệp thời kỳ hậu gia nhập WTO”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, kinh tế và kinh doanh, số 27, trang 135-141. Các tác giả đã trình bày thực trạng công tác đãi ngộ nhân sự tại các doanh nghiệp của Việt Nam và những khó khăn, thách thức mà các doanh nghiệp của chúng ta phải đối diện trong quá trình hội nhập, cụ thể là các cam kết sau khi gia nhập WTO chúng ta phải thực hiện. Trên cơ sở phân tích các thực trạng, bài viết đã chỉ ra những thay đổi mà các doanh nghiệp Việt Nam cần thực hiện để không bị tụt lại trong cuộc cạnh tranh toàn cầu, cụ thể như cần đổi mới về chính sách đãi ngộ nhân sự, đổi mới về cách tính lương, thưởng và các phúc lợi khác để có lợi thế cạnh trên bền vững trên thị trường.
Ngoài ra, có một số luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản trị kinh doanh cũng bàn về các vấn đề liên quan tới đãi ngộ nhân sự trong các tổ chức và 8 z doanh nghiệp, đặc biệt là các nghiên cứu của các học viên cao học trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nôi: Nguyễn Thị Hường (2012), “Chính sách đãi ngộ và ảnh hưởng của nó tới động cơ làm việc của giảng viên trường Đại học Lao động xã hội”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh Tế- Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã chỉ ra thực trạng chính sách đãi ngộ nhân sự tại trường Đại học Lao động xã hội, bao gồm thực trạng chính sách đãi ngộ tài chính và thực trạng chính sách đãi ngộ phi tài chính. Trên cở sở đó, luận văn cũng đã làm rõ những tác động tích cực cũng như tiêu cực của chính sách đãi ngộ đối với động cơ làm việc của giảng viên trường Đại học Lao động xã hội và đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy động cơ làm việc của cán bộ giảng viên ngôi trường này.
“Đãi ngộ nhân sự tại Công ty TNHH thương mại Dược phẩm Trang Ly”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nội. Tác giả đã thêm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng của công tác đãi ngộ nhân sự gồm những đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính. Để thành công, lãnh đạo Công ty TNHH Thương mại Dược phẩm Trang Ly cần đặc biệt quan tâm tới người lao động, ngoài việc tuyển dụng đúng người, đặt vào đúng vị trí công việc thì việc chăm lo cho đời sống vật chất, tinh thần của người lao động là hết sức quan trọng để người lao động cống hiến cho sự phát triển của Công ty.
Nguyễn Thị Hạnh (2015). “Công tác đãi ngộ nhân sự tại Công ty cổ phần Kinh Đô”. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Kinh Tế - Đại học Quốc gia Hà Nội.