CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA CHA DƯỢNG, MẸ KẾ ĐỐI VỚI CON RIÊNG CỦA VỢ HOẶC CỦA CHỒNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm của quy định về quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc của chồng.1 Khái niệm về quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc của chồng. Quyền con người, hay còn gọi là nhân quyền, từ lâu đã được thừa nhận và bảo vệ, là quyền vốn có được trao cho mỗi cá nhân một cách bình đẳng, tự do và không dựa trên bất kỳ sự phân biệt nào về màu da, tôn giáo, giới tính, chủng tộc hay các điều kiện khác. Thừa nhận quyền con người được coi là một bước phát triển đột phá và là thành quả nổi bật trong lịch sử nhân loại. Trên phương diện bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em ra đời như một phần tất yếu, nhận được sự ủng hộ và quan tâm của hầu hết các quốc gia trên thế giới.
Trong đó, nổi bật không thể không kể đến là các nhóm quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con, bao gồm mối quan hệ không cùng huyết thống như cha dượng, mẹ kế với con riêng của vợ hoặc của chồng, tiếp cận trên cơ sở quyền con người trong lĩnh vực gia đình. Nghiên cứu một số văn bản pháp luật quốc tế đề cập đến quyền con người như Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền (UDHR) năm 19482, Công ước quốc tế về quyền trẻ em3,. thì quyền trẻ em trong mối quan hệ gia đình, cụ thể là giữa cha, mẹ và con là một nội dung cơ bản và được nhiều quốc gia thông qua. Tại nước ta, Việt Nam cũng là một trong những nước đầu tiên tham gia ký Công ước về quyền trẻ em năm 1989 (Convention on the Rights of the Child).
Trước đây, Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 có quy định: “Cha mẹ có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống chung với mình”4, có thể thấy, pháp luật nước ta từ lâu luôn đề cao quyền sống chung của con với cha mẹ của mình. Cho đến sau này, khi Luật trẻ em ra đời năm 2016, luật duy trì tinh thần đó: “Trẻ em có quyền được sống chung với cha, mẹ; được cả cha và mẹ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục, trừ trường hợp cách ly cha, mẹ 2 Khoản 3 Điều 26 Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền năm 1948. 3 Điều 3, Điều 18 Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1989 xác định các Quốc gia thành viên phải cam kết bảo đảm dành cho trẻ em sự bảo vệ và chăm sóc. 4 Khoản 1 Điều 25 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004, hết hiệu lực thi hành từ 01/6/2017.
10 theo quy định của pháp luật hoặc vì lợi ích tốt nhất của trẻ em”5. Điều này hoàn toàn phù hợp với tinh thần chung của Hiến pháp nước ta khi Điều 37 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”. Dễ dàng nhận thấy, việc được sống chung với cha mẹ của mình có thể được xem là điều kiện tối thiểu để đứa trẻ có thể phát triển toàn diện và điều đó cũng được pháp luật coi trọng, cho nên việc được sống chung với cha mẹ là quyền cơ bản của mỗi đứa con, đặc biệt là trẻ em.
Qua đó, mối quan hệ giữa cha mẹ và con, kể cả mối quan hệ không cùng huyết thống giữa cha dượng, mẹ kế và con riêng của bên kia cùng sống chung là mối quan hệ được pháp luật đặc biệt quan tâm và điều chỉnh. Trong xã hội ngày nay, vấn đề về quyền và nghĩa vụ của cha dượng, mẹ kế đối với con riêng của vợ hoặc của chồng là vấn đề mang tính nhân đạo sâu sắc, thể hiện tình thương yêu, tinh thần trách nhiệm cao quý và hơn hết đó là mang đến cho những đứa trẻ có một gia đình hoàn chỉnh. Về khái niệm thế nào là “cha dượng”, “mẹ kế” thì hiện pháp luật hôn nhân và gia đình Việt Nam chưa có định nghĩa cụ thể, mặc dù Luật HNGĐ năm 2014 có khẳng định rằng cha dượng, mẹ kế, con riêng của vợ hoặc của chồng là một trong những “thành viên gia đình”6. Mặt khác, theo từ điển Tiếng Việt, “cha dượng” hay “bố dượng” được hiểu là “chồng sau của mẹ, trong mối quan hệ với con của người chồng trước”7; “mẹ kế” chỉ “người phụ nữ là vợ kế, trong quan hệ với con người vợ trước của chồng”8.
Tham khảo pháp luật nước ngoài, cụ thể là Đạo luật gia đình năm 1975 của Quốc hội Úc có định nghĩa về cha mẹ kế như sau: “Cha mẹ kế trong mối quan hệ với đứa con của bên kia là một người: (a) không phải là cha mẹ đẻ của đứa trẻ; và (b) đã kết hôn hoặc là một đối tác trên thực tế (theo nghĩa của mục 60EA) của cha mẹ đẻ của đứa trẻ; và 5 Điều 22 Luật Trẻ em năm 2016. 6 Khoản 16 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014. 7 “bố dượng”, Từ điển Soha, Nghĩa của từ Bố dượng - Từ điển Việt - Việt (soha.vn), truy cập ngày 29/3/2023. 8 “mẹ kế”, Từ điển Soha, Nghĩa của từ Mẹ kế - Từ điển Việt - Việt (soha.vn), truy cập ngày 29/3/2023.
11 (c) bất cứ lúc nào khi đã kết hôn hoặc đối tác trên thực tế của cha mẹ đẻ phải đối xử với đứa trẻ như một thành viên trong gia đình hình thành với cha mẹ đẻ của đứa trẻ đó”9. Bên cạnh đó, để xác định là một người đang trong mối quan hệ thực tế với một người khác thì cần đáp ứng đủ ba điều kiện như sau: “Một người được xem là trong mối quan hệ thực tế với người khác nếu: (a) Những người đó chưa kết hôn hợp pháp với nhau; và (b) Những người không có mối quan hệ họ hàng trong gia đình (xem tiểu mục 6); và (c) Liên quan đến mọi trường hợp của mối quan hệ, họ có mối quan hệ sống chung như một cặp vợ chồng trên cơ sở là một gia đình thực sự”10. Có thể thấy, khái niệm về cha mẹ kế trong Đạo luật gia đình năm 1975 của Úc được quy định rõ ràng, chi tiết và mang những đặc điểm riêng biệt so với Luật HNGĐ năm 2014 của nước ta. Theo đó, tại Úc, mối quan hệ giữa cha mẹ kế với con của bên kia được xác lập ngay cả khi giữa cha mẹ đẻ của đứa trẻ và cha mẹ kế chưa đăng ký kết hôn mà chỉ cần đáp ứng đủ điều kiện giữa họ là đối tác trên thực tế.
Điều này khác biệt hoàn toàn so với pháp luật nước ta, khi quan hệ sống chung như vợ chồng - “việc nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng”11 sẽ không làm phát sinh quan hệ nhân thân và cũng không tồn tại bất kỳ quyền và nghĩa vụ nào giữa họ với tư cách là vợ chồng. Hay nói cách khác, pháp luật Việt Nam chỉ bảo vệ các chủ thể khi giữa họ có tồn tại quan hệ hôn nhân và đó cũng là cơ sở để giải quyết các vấn đề khác như tài sản, nghĩa vụ cấp dưỡng, con chung, con riêng,. Nếu hai người không kết hôn mà sống chung với con riêng của một bên thì giữa con riêng và nhân tình của bố hoặc mẹ sẽ không được xem là “cha dượng” hay “mẹ kế” cũng như chịu sự điều chỉnh của quan hệ pháp luật cha mẹ con. Bên cạnh khái niệm thế nào là “cha dượng”, “mẹ kế” thì pháp luật Việt Nam hiện nay cũng chưa có quy định cụ thể định nghĩa về con riêng.
Theo Từ điển Luật học, “con riêng” là “con của một bên vợ hoặc chồng với người khác”12. Theo cách 9 Điều 4 Đạo luật gia đình Úc năm 1975. 10 Điều 4AA Đạo luật gia đình Úc năm 1975. 11 Khoản 7 Điều 3 Luật HNGĐ năm 2014.
12 “Con riêng”, Thuật ngữ pháp lý | Từ điển Luật học | Dictionary of Law (thuvienphapluat.vn), truy cập ngày 8/8/2023. 12 hiểu này thì con riêng có thể là con của người vợ hoặc người chồng đã có từ mối quan hệ khác trước khi kết hôn. Con riêng cũng có thể là con của người vợ có được trong giai đoạn hôn nhân nhưng được Tòa án xác định cha của đứa con không phải người chồng, có thể gọi là có thai với người khác trong thời kỳ hôn nhân. Ngoài ra, con riêng cũng có thể là con của người chồng với một người phụ nữ khác trong thời kỳ hôn nhân mà không phải là vợ mình và đã được Tòa án xác định rằng mẹ của đứa trẻ là một người khác.
Nói tóm lại, con riêng có thể được sinh ra trong hoặc trước thời kỳ hôn nhân. Tại đây cần lưu ý, hai khái niệm “con riêng” và “con ngoài giá thú” tuy nghe qua có những yếu tố tương đồng (như người chồng và người vợ trong mối quan hệ hôn nhân không đồng thời cùng là cha mẹ của đứa trẻ) nhưng về bản chất thì không giống nhau. Vậy, câu hỏi đặt ra là con riêng có phải là con ngoài giá thú hay không? Cũng như định nghĩa về con riêng, con ngoài giá thú chưa được định nghĩa cụ thể trong bất kỳ văn bản pháp luật hay quy định cụ thể nào. Thuật ngữ “giá thú” bắt nguồn từ gốc chữ Hán, là thuật ngữ pháp lý được sử dụng trong pháp luật dân sự Việt Nam thời phong kiến, thời Pháp thuộc và ở miền Nam Việt Nam trong giai đoạn trước năm 1975.
Thuật ngữ này tương đương thuật ngữ “hôn nhân” (khi sử dụng là danh từ) và thuật ngữ “kết hôn” (khi sử dụng là động từ) trong Luật HNGĐ Việt Nam hiện đại13. Tham khảo từ điển tiếng Việt, “con ngoài giá thú” là “con sinh ra mà cha mẹ không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật”14. Mặt khác, quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành chỉ công nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp khi các bên đã đủ điều kiện kết hôn và thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền15.