Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE HÒA GIẢI VỤ AN DAN SỰ THEO PHAP LUAT TO TUNG DAN SU VIET NAM L Những vân đề chung về hòa giải vụ án dân sự 1.1 Khái niệm, đặc điêm và ý nghĩa của vụ án dân sự 1.1 Khái niệm hòa giải vụ an dân sự Hòa giải vụ án dân sự là một phương thức giải quyết tranh chấp và những diễn biến trong đời sống xã hội. Trong khoa học pháp lý, hòa giải được hiểu ở nhiều góc độ khác nhau. Dưới góc độ là một thủ tục giải quyết tranh chấp thì thủ tục hòa giải là vụ án dân sự mà các bên tham gia, bao gồm các bên tranh chấp và bên trung gian hòa giải cần tuân theo để đạt được tự nguyện thỏa thuận giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp đang tồn tại giữa các bên. Dưới góc độ pháp lý, hòa giải là một chế định pháp luật.
Theo giáo trình Lý luận Nhà nước và pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thi: “Chế định pháp luật là một tập hợp các cấu trúc từ nhóm các quy phạm pháp luật địnhhình nhóm quan hệ xã hội có liên quan mật thiết với nhaw”'. Theo định nghĩa này, chế định hòa giải là một tập hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình hòa giải để giải quyết tranh châp. Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn này, người viết chỉ chú trọng nghiên cứu hòa giải dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên,ngay cả ở góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp thì trước đây cũng như hiện nay cũng vẫn có nhiều quan điểm về hòa giải, cụ thể như:Theo Từ điển tiếng Việt thì “Hỏa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đội, xích mich một cách ồn thỏđ"”.Theo quan điểm của các tô tụng gia Nhật Bản đã được ghi nhận trong pháp luật thì: “Hỏa giải là một bước củng có thỏa thuận giải quyết tranh chấp thông qua sự nhượng bộ giữa các ! Giáo trình lý luận Nhà nước và Pháp luật, Đại học Luật Hà Nội, tr.
? Viện Ngôn ngữ học (1998), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr.Từ điển Luật học của Cộng hòa Pháp giải thích: “Hỏa giải là phương thức giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của người trung lập thứ ba (hòa giải viên) dé giúp đưa ra các dé nghị giải quyết một cách thân mật ””. Ngoài ra, trong khoa học pháp lý, còn có nhiều quan điểm khác về hòa giải dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp. Từ các quan điểm trên có thể khái quát, hòa giải là quá trình các bên đàm phán với nhau để giải quyết tranh chấp với sự giúp đỡ của bên thứ ba. Như vậy, khác với phương thức giải quyết tranh chấp bằng thương lượng, hòa giải coi trọng vai trò của bên trung gian thứ ba giúp các bên tranh chấp đưa ra phương hướng giải quyết, nhằm dung hòa quyên và lợi ích của cả hai bên để từ đó đi đến thông nhất phương án giải quyết tranh chấp.
Khi việc giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên thứ ba làTòa án - cơ quan đại điện cho quyền lực Nhà nước thì việc giải quyết tranh chấp đó phải tuân theo hình thức, trật tự, thủ tục do pháp luật tố tụng quy định, quyết định, bản án do Tòa án tuyên tại mỗi giai đoạn của quá trình giải quyết tranh chấp, đều được đảm bao thi hành bằng quyền lực Nhà nước, phù hợp với quy định của pháp luật TTDS và pháp luật về thi hành án. Bên cạnh thủ tục hòa giải tại Tòa án, trên thực tế tồn tại nhiều hình thức hòa giải khác nhau như hòa giải ở cơ sở, hòa giải ở UBND,. Các hình thức hòa giải này đều có đặc điểm chung là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong đời sống dân sự, hình thức hòa giải đều có sự tham gia của chủ thé thứ ba đóng vai trò trung gian và các bên tranh chấp có quyền quyết định cũng như định đoạt khi tiến hành giải quyết tranh chấp bằng hòa giải. Tuy vậy, các phương thức này cũng có những điểm khác biệt nhất định, về tính chất bắt buộc, về chủ thể, phạm vi hòa giải và hiệu lực pháp luật của kết quả hòa giải thành.
Như vậy, từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm hòa giải vụ án dân sự dưới góc độ là một hoạt động giải quyết tranh chấp, theo đó, hòa giải vụ án dân sự là hoạt động tô tung dân sự với vai trò của Tòa án là bên 3 Viện khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp (2002), Điều 695 Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản, (Tài liệu tham khảo), Hà Nội. De France - 2TM Edition (1990), Vocabulare Juridige (Từ Điền Luật học Pháp). trung gian thứ ba giúp đố các đương sự thỏa thuận giải quyết tranh chấp dân sự.2 Đặc diém của hòa giải vụ an dân sự Với khái niệm nêu trên, có thê thây hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động tô tụng đặc thù của tô tụng dân sự với các đặc điêm riêng biệt sau: 1. Hoa giải về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự Mặc dù hòa giải vụ án dân sự là một hoạt động do Tòa án tiễn hành nhưng về bản chất hòa giải vẫn là sự thỏa thuận của các đương sự.
Chỉ có các đương sự mới có quyền hòa giải với nhau về tất cả những vẫn đề đang cần giải quyết của vụ án, bởi đương sự là những người có quyền lợi đang bị xâm hại hoặc tranh chấp. Họ là người hiểu rõ hơn ai hết mâu thuẫn của chính họ. khi tham gia quá trình hòa giải, các đương sự có quyền thương lượng, thỏa thuận với nhau để giải quyết những bat đồng về quyên lợi của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện, nhất chí, thỏa thuận. Mọi sự tác động từ bên ngoài trái với ý muốn của các đương sự đều bị coi là trái pháp luật và không được công nhận.
Trong trường hợp đương sự không tự mình tham gia hòa giải thì có thể ủy quyền cho người khác đại diện mình tham dự hòa giải. Người đại diện của đương sự có thé thay mặt đương sự để thương lượng, thỏa thuận nhưng chỉ trong phạm vi đại diện và phải tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật về đại diện. Tuy nhiên, đối với vụ án ly hôn thì người đại diện theo pháp luật không có quyền hòa giải, bởi quan hệ thân nhân phải do các đương sự tự quyết định. Đối với những trường hợp do cơ quan tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, cơ quan tô chức không phải là chủ thé của quan hệ pháp luật tranh chấp nên không có quyên hòa giải với bi đơn.
Sự thỏa thuận của các đương sự phải trong khuôn khổ pháp luật và chỉ được Tòa án công nhận khi không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Tòa án là chủ thể trung gian tiễn hành hòa giải, có vai trò quan trọng trong việc giúp đỡ các đương sự thỏa thuận với nhau 10 Hòa giải về bản chất là sự thỏa thuận của các đương sự nhưng Tòa án là chủ thé không thê thiếu trong quá trình hòa giải đó. Tòa án tham gia vào quá trình hòa giải với vai trò là người tô chức, xác định thời gian, địa điểm, thành phần, nội dung hòa giải, giải thích pháp luật và nội dung tranh chấp để các đương sự thỏa thuận với nhau. Tòa án không can thiệp vào nội dung thỏa thuận các bên đương sự.
Kết quả tự thỏa thuận của đương sự là do các đương sự thực hiện quyền định đoạt của mình, nhưng kết quả này được xây dựng trên cơ sở các trình tự, thủ tục chặt chẽ do Tòa án tiễn hành. Mặc dù, chỉ là bên thứ ba giữ vai trò trung gian nhưng Tòa án có một vai trò đặc biệt quan trọng, trong việc chuẩn bị những điều kiện cần thiết, tạo ra cơ hội và định hướng cho các bên đương sự thương lượng và thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Hoa giải vụ an dán sự phải được tiễn hành theo thủ tục do luật to tụng dân sự quy định Hòa giải vụ án dân sự, cũng như các thủ tục tố tụng khác do Tòa án tiễn hành trên cơ sở quy định của pháp luật. Việc BLTTDS quy định thủ tục hoa giải vụ án dân sự nhằm bảm đảm tính khách quan, công bằng, bảo đảm sự bình đăng của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án.
Quy định của pháp luật TTDS về thủ tục hòa giải là cơ sở đề tiến hành hòa giải các vụ án dân sự,đồng thời bắt buộc Tòa án và những người khác tham gia hòa giải vụ án dân sự phải tuân thủ các quy định về thủ tục triệu tập các đương sự tham gia hòa giải, thông báo hòa giải, trình tự tiến hành hòa giải và thủ tục ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.3 Ý nghĩa của hòa giải vụ án dân sự Thứ nhất, hòa giải vụ an dán sự dam bao quyền tự định đoạt của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Khi tranh chấp được đưa ra Tòa án thì toàn bộ quy trình, thủ tục giải quyết vụ án sẽ phải tuân theo các quy định của pháp luật TTDS. Trong đó, quyền tự định đoạt của đương sự luôn được Tòa án đảm bảo trong suốt quá trình giải quyết tranh chấp. II Hòa giải vụ án dân sự là cơ hội dé các đương sự có thê đưa ra quan điểm giải quyết vụ áncủa cá nhân mình, đồng thời thông qua việc giải thích pháp luật, phân tích và định hướng của Tòa án, các đương sự tự nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình trong vụ án. Trên cơ sở đó, họ nhận thức vàhành động phù hợp với quy định của pháp luật.
Trong trường hợp không hòa giải thành cũng giúp cho các đương sự kiềm chế mâu thuẫn và không làm cho tranh chấp phát triển phức tạp hơn. Thứ hai, y nghĩa doi với Toa an Xét xử đúng là tốt nhưng không phải xét xử mà vẫn giải quyết được tranh chấp còn tốt hơn, vì vậy hòa giải luôn được khuyến khích khi giải quyết vụ án dân sự. Trong trường hợp hòa giải thành, Tòa án giảm bớt được nhiều thủ tục tố tụng phức tạp và khó khăn như phiên tòa sơ thâm, thủ tục phúc thấm, thủ tục giám đốc thấm hoặc thủ tục tái thâm và các thủ tục trong giai đoạn thi hành án. Mặt khác, các quyết định của Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thường được thực hiện dứt điểm.