Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bệnh lao tiếp tục là một trong những thách thức y tế công cộng lớn tại các quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) năm 2018, Việt Nam đứng thứ 16 trong 30 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất toàn cầu. Thống kê của Chương trình Chống lao Quốc gia năm 2018 ghi nhận 20.262 trường hợp lao ngoài phổi (chiếm 19,9%), trong đó tràn dịch màng phổi (TDMP) do lao chiếm tỷ lệ từ 17% đến 18%. Tại các tỉnh phía Bắc, riêng năm 2018 đã có 7.176 bệnh nhân mắc thể bệnh này.
TDMP do lao là tình trạng viêm xuất tiết của màng phổi trước sự xâm nhập của vi khuẩn lao (Mycobacterium tuberculosis), dẫn đến sự tích tụ dịch và lắng đọng sợi tơ huyết (fibrin). Di chứng thường gặp và nặng nề nhất sau điều trị là tình trạng dày dính màng phổi (DDMP), làm suy giảm nghiêm trọng chức năng thông khí phổi, gây khó thở kéo dài và xẹp phổi. Tỷ lệ DDMP sau TDMP do lao được các nghiên cứu trong nước ghi nhận ở mức rất cao, từ 70% (Chương trình Chống lao Quốc gia, 2008) đến 73,8% (Nguyễn Thị Bích Ngọc, 2011).
Để hạn chế di chứng dày dính và xẹp phổi, người bệnh cần thực hiện các can thiệp phục hồi chức năng hô hấp (PHCNHH) sớm và đúng quy trình kỹ thuật. Trong các biện pháp PHCNHH, tập thở đóng vai trò nòng cốt nhằm giúp lồng ngực giãn nở tối đa, tăng cường trao đổi khí và giải phóng khí cặn. Tuy nhiên, việc người bệnh tự thực hành các kỹ thuật thở sâu, thở cơ hoành và thở chúm môi tại buồng bệnh thường gặp nhiều sai sót, làm giảm hiệu quả điều trị.
Khóa luận tốt nghiệp ngành Điều dưỡng của tác giả Nguyễn Thị Mừng (Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, năm 2020) được triển khai nhằm thực hiện hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát thực trạng thực hành kĩ thuật tập thở của người bệnh tràn dịch màng phổi do lao điều trị tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2020.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến thực hành kĩ thuật tập thở của người bệnh tràn dịch màng phổi do lao điều trị tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2020.
- Đối tượng nghiên cứu: Người bệnh được chẩn đoán xác định tràn dịch màng phổi do lao và đang điều trị nội trú tại khoa Nội 1 – Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định.
- Phạm vi không gian: Khoa Nội 1, Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định (bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh hạng II với quy mô 160 giường bệnh).
- Phạm vi thời gian: Số liệu được thu thập và hoàn thành báo cáo trong năm 2020.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết và quy chuẩn chuyên môn áp dụng
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên sinh lý học hô hấp, cơ chế bệnh sinh của tràn dịch màng phổi do lao qua 3 giai đoạn mô bệnh học (viêm lan tỏa, khu trú xuất tiết fibrin, xơ hóa và co rút hình thành ổ cặn màng phổi). Về mặt kỹ thuật can thiệp điều dưỡng và phục hồi chức năng, đề tài căn cứ vào hai văn bản chuyên môn do Bộ Y tế ban hành:
- Quyết định số 3109/QĐ-BYT năm 2014 về việc ban hành tài liệu chuyên môn “Hướng dẫn chẩn đoán, điều trị phục hồi chức năng” cho người bệnh TDMP do lao.
- Tài liệu “Quy trình kĩ thuật nội khoa chuyên ngành hô hấp” (Bộ Y tế, 2016).
Nghiên cứu tập trung vào hai kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp cơ bản:
- Thở chúm môi (Pursed-lip breathing): Phương pháp điều hòa nhịp thở nhằm giữ cho đường dẫn khí luôn mở thông khi thở ra, ngăn chặn tình trạng xẹp đường dẫn khí nhỏ, hỗ trợ giải phóng thể tích khí cặn và tăng hiệu quả trao đổi oxy tại phế nang.
- Thở cơ hoành (Diaphragmatic breathing): Phương pháp tập trung phục hồi chuyển động của cơ hoành – cơ hô hấp chính bị hạn chế vận động do khoang màng phổi ứ đọng dịch và lồng ngực căng phồng; qua đó cải thiện thể tích thông khí lưu thông và giảm tiêu hao năng lượng của các cơ hô hấp phụ.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang định lượng kết hợp quan sát trực tiếp bằng bảng kiểm chuẩn hóa.
- Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Nghiên cứu khảo sát toàn bộ $n = 32$ người bệnh TDMP do lao đáp ứng tiêu chuẩn lựa chọn điều trị tại thời điểm nghiên cứu.
- Công cụ thu thập dữ liệu:
- Phiếu phỏng vấn cấu trúc (Phụ lục 2): Thu thập thông tin nhân khẩu học (tuổi, giới tính, nơi ở, học vấn, nghề nghiệp, kinh tế) và các yếu tố truyền thông giáo dục sức khỏe (thời điểm, hình thức, số lần và địa điểm tiếp nhận hướng dẫn tập thở).
- Bảng kiểm kỹ thuật tập thở (Phụ lục 3): Dùng để quan sát và chấm điểm các bước thao tác thở chúm môi và thở cơ hoành của từng đối tượng nghiên cứu (đánh giá theo các thang đo: làm đúng đủ, làm đúng không đủ, làm sai hoặc không làm; phân loại tổng thể thành mức độ "Tốt" và "Chưa tốt").
- Xử lý và phân tích số liệu: Dữ liệu được tổng hợp, tính toán các chỉ số thống kê mô tả (tần số, tỷ lệ phần trăm, điểm trung bình, độ lệch chuẩn, khoảng điểm Min - Max). Phân tích mối liên quan giữa các biến số độc lập với mức độ thực hành kỹ thuật thở thông qua kiểm định Fisher's Exact Test với ngưỡng ý nghĩa thống kê $p < 0,05$.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương này hệ thống hóa các kiến thức y học và điều dưỡng liên quan đến bệnh học màng phổi:
- Giải phẫu và sinh lý màng phổi: Cấu tạo khoang màng phổi (khoang ảo, áp lực âm từ -6 đến -10 mmHg, chứa dưới 20 ml dịch sinh lý giúp hai lá trượt lên nhau). Cơ chế hình thành và tái hấp thu dịch theo định luật Starling qua áp lực thẩm thấu, keo huyết tương, áp lực thủy tĩnh và đàn hồi.
- Cơ chế bệnh sinh và triệu chứng tràn dịch màng phổi do lao: Thể hiện qua phản ứng dị ứng miễn dịch giữa Tuberculin của trực khuẩn lao sống với tế bào lympho T mẫn cảm, kích thích giải phóng lymphokin làm tăng tính thấm mao mạch màng phổi. Tiến triển qua 3 giai đoạn: viêm xung huyết màng phổi, khu trú xuất tiết lắng đọng tơ huyết (fibrin), xơ hóa co rút tạo ổ cặn làm hẹp khoang liên sườn. Lâm sàng điển hình với hội chứng 3 giảm (rung thanh giảm, gõ đục theo đường cong Damoiseau, rì rào phế nang giảm hoặc mất).
- Nguyên lý và các bước kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp: Trình bày chi tiết giải pháp thở chúm môi và thở cơ hoành theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Nhấn mạnh việc thở đúng cách giúp các màng không bị dày dính lại với nhau, tăng cường giãn nở tối đa nhu mô phổi.
- Cơ sở thực tiễn và tổng quan nghiên cứu liên quan: Tổng hợp số liệu dịch tễ bệnh lao toàn cầu và Việt Nam; trích dẫn các nghiên cứu của Zakerimoghadam và cs (2011), Gosselink (2003), Kyo Chul Seo và cs (2017) về sự phục hồi cơ hô hấp và giảm mệt mỏi; đồng thời đối chiếu với kết quả can thiệp PHCNHH của Phạm Thị Bích Ngọc (2018) trên bệnh nhân hô hấp tại tỉnh Nam Định.
Chương 2: Liên hệ thực tiễn
Chương 2 trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực tế trên 32 người bệnh TDMP do lao tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định:
- Thông tin chung về cơ sở nghiên cứu: Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định là cơ sở chuyên khoa hạng II với 160 giường bệnh, hàng năm tiếp nhận hơn 3.000 lượt khám và điều trị (năm 2017 điều trị 291 ca, năm 2018 điều trị 298 ca TDMP).
- Đặc điểm mẫu nghiên cứu:
- Nam giới chiếm 65,6% (21 người), nữ giới chiếm 34,4% (11 người).
- Độ tuổi: Nhóm trên 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,75% (14 người); nhóm 41-60 tuổi chiếm 31,25% (10 người); độ tuổi 18-20 tuổi chỉ chiếm 3,1%.
- Nơi cư trú và nghề nghiệp: 81,3% sống ở nông thôn (26 người); 53,1% làm nông dân (17 người); công nhân chiếm 18,8%; nghề tự do chiếm 15,6%.
- Trình độ học vấn: Trình độ THCS chiếm 50,0% (16 người); THPT chiếm 18,8%; tiểu học 15,6%; đại học/sau đại học chiếm 9,4%.
- Tiền sử bệnh: 81,3% là bệnh nhân lao mới; 84,4% mới bị tràn dịch màng phổi lần đầu; 15,6% bị tràn dịch tái phát từ 2 lần trở lên.
- Thực trạng truyền thông và tiếp nhận thông tin: 100% bệnh nhân được nhân viên y tế chủ động tư vấn tập thở. Thời điểm tiếp nhận chủ yếu là sau khi vừa chọc hút dịch màng phổi lần đầu (81,3%) và tại phòng tập PHCN (62,5%). Hình thức truyền thông chủ yếu bằng lời nói (84,4%), thực hành mẫu chiếm 43,8%, video hướng dẫn chỉ chiếm 3,1%. Địa điểm tiếp nhận hướng dẫn diễn ra nhiều nhất tại buồng bệnh (62,5%).
- Thực trạng thực hành kỹ thuật tập thở:
- Thở chúm môi: Tỷ lệ thực hành chưa tốt chiếm 53,1% (17 người), mức độ tốt chiếm 46,9% (15 người). Điểm trung bình đạt $7,81 \pm 1,49$ (Min: 5, Max: 11). Người bệnh làm sai hoặc không làm nhiều nhất ở Bước 3 (53,1%) và Bước 4 (25,0%).
- Thở cơ hoành: Tỷ lệ thực hành chưa tốt chiếm 59,4% (19 người), thực hành tốt chỉ chiếm 40,6% (13 người). Điểm trung bình đạt $7,25 \pm 1,50$ (Min: 5, Max: 11). Bước 3 có 50,0% người bệnh làm sai/không làm; Bước 4 có 37,5% làm sai/không làm.
- Phân tích các yếu tố liên quan:
- Với kỹ thuật thở chúm môi: Có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê giữa mức độ thực hành với độ tuổi ($p = 0,016$), trình độ học vấn ($p = 0,018$) và mức độ chủ động tập thở thường xuyên ($p = 0,016$). Nhóm tuổi 18-60 tuổi, nhóm có học vấn từ THPT trở lên và nhóm duy trì tập luyện thường xuyên đạt tỷ lệ thực hành tốt cao hơn rõ rệt.
- Với kỹ thuật thở cơ hoành: Nghề nghiệp là yếu tố có mối liên quan mang ý nghĩa thống kê ($p = 0,023$); nhóm làm nghề công nhân và tự do/công chức thực hành tốt hơn nhóm làm nông dân.
- Phân tích nguyên nhân thực hiện được và chưa thực hiện được: Xác định rõ các rào cản từ phía người bệnh (chưa hiểu hết tầm quan trọng của phòng ngừa dày dính màng phổi, e ngại khi tập, khả năng tiếp thu các bước kỹ thuật phức tạp còn hạn chế) và từ phía bệnh viện (thiếu nhân lực chuyên trách PHCN, điều dưỡng phải kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ chăm sóc lâm sàng, chưa có phòng giáo dục sức khỏe riêng biệt).
Chương 3: Khuyến nghị và đề xuất các giải pháp khả thi
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ phân theo 4 nhóm chủ thể:
- Đối với bệnh viện: Bổ sung biên chế kỹ thuật viên PHCN chuyên trách; cử điều dưỡng đi đào tạo chuyên sâu về PHCN hô hấp; đầu tư bổ sung trang thiết bị, phòng tập và mở phòng tư vấn giáo dục sức khỏe độc lập để tránh gây phân tán tại buồng bệnh.
- Đối với nhân viên y tế: Đổi mới phương pháp truyền thông, sử dụng từ ngữ đại chúng dễ hiểu; tăng cường làm mẫu trực quan và ứng dụng video hướng dẫn; tập trung hướng dẫn kỹ Bước 3 và Bước 4 (các bước hóp bụng, điều hòa nhịp thở ra gấp đôi hít vào); theo dõi giám sát định kỳ đến khi người bệnh thành thạo.
- Đối với người nhà người bệnh: Đóng vai trò giám sát, nhắc nhở và tạo động lực để bệnh nhân duy trì tập thở đều đặn mỗi ngày tại giường bệnh.
- Đối với người bệnh: Nâng cao tinh thần tự giác, chủ động trao đổi với điều dưỡng về các động tác khó hoặc chưa nắm rõ để được chỉnh sửa kịp thời.
Chương 4: Kết luận
Tóm lược kết quả nghiên cứu theo đúng hai mục tiêu đề tài: khẳng định tỷ lệ người bệnh thực hành kỹ thuật tập thở chưa tốt còn ở mức cao (thở chúm môi chưa tốt là 53,1%; thở hoành chưa tốt là 59,4%); nhấn mạnh vai trò của các yếu tố liên quan gồm độ tuổi, trình độ học vấn, thói quen tập luyện và nghề nghiệp làm cơ sở cho công tác can thiệp điều dưỡng.
Kết quả và đóng góp
Số liệu thực trạng kỹ thuật tập thở
Dữ liệu khảo sát trên 32 đối tượng nghiên cứu phản ánh mức độ thực hành qua bảng tổng hợp sau:
| Chỉ số đánh giá |
Kỹ thuật thở chúm môi |
Kỹ thuật thở cơ hoành |
| Điểm thấp nhất (Min) |
5 |
5 |
| Điểm cao nhất (Max) |
11 |
11 |
| Điểm trung bình ($\bar{X} \pm SD$) |
$7,81 \pm 1,49$ |
$7,25 \pm 1,50$ |
| Tỷ lệ thực hành mức Tốt |
46,9% (15 người) |
40,6% (13 người) |
| Tỷ lệ thực hành Chưa tốt |
53,1% (17 người) |
59,4% (19 người) |
| Tỷ lệ làm đúng đủ ở Bước 1 |
40,6% (13 người) |
28,1% (9 người) |
| Tỷ lệ làm sai/không làm ở Bước 3 |
53,1% (17 người) |
50,0% (16 người) |
| Tỷ lệ làm sai/không làm ở Bước 4 |
25,0% (8 người) |
37,5% (12 người) |
Các yếu tố liên quan có ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$)
Kiểm định Fisher's Exact Test chỉ ra các biến số có mối liên quan thực chất đến chất lượng thực hành:
- Tuổi và kỹ thuật thở chúm môi ($p = 0,016$): Nhóm 18-60 tuổi có 66,7% đạt loại tốt, trong khi nhóm trên 60 tuổi chỉ có 21,4% đạt loại tốt.
- Trình độ học vấn và kỹ thuật thở chúm môi ($p = 0,018$): Nhóm trình độ $\le$ THCS chỉ có 31,8% làm tốt; nhóm THPT đạt 66,7% tốt và nhóm trên THPT đạt 100% tốt.
- Mức độ chủ động luyện tập và kỹ thuật thở chúm môi ($p = 0,016$): Nhóm tập thường xuyên có 56,0% đạt loại tốt; nhóm thỉnh thoảng chỉ đạt 18,2% và nhóm không tập đạt 0%.
- Nghề nghiệp và kỹ thuật thở cơ hoành ($p = 0,023$): Nhóm làm nông nghiệp có tỷ lệ chưa tốt lên tới 76,5% (chỉ 23,5% làm tốt); nhóm công nhân làm tốt đạt 33,3%; nhóm nghề tự do/công chức đạt 77,8% làm tốt.
Đóng góp thực tiễn so với các nghiên cứu trước
- Tác giả tự nêu đây là công trình đầu tiên tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định đánh giá trực tiếp thực trạng thực hành kỹ thuật tập thở ở bệnh nhân TDMP do lao.
- So với kết quả nghiên cứu trước can thiệp của Phạm Thị Bích Ngọc (2018) trên bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), tỷ lệ chưa tốt trong nghiên cứu này thấp hơn (thở chúm môi chưa tốt: 53,1% so với 85,5%; thở cơ hoành chưa tốt: 59,4% so với 87,3%) và điểm trung bình đạt cao hơn ($7,81 \pm 1,49$ so với $6,09 \pm 1,35$ ở thở chúm môi; $7,25 \pm 1,50$ so với $6,16 \pm 1,15$ ở thở cơ hoành). Sự khác biệt được lý giải do sự khác nhau về đặc thù bệnh lý, đối tượng và địa điểm can thiệp.
- Chỉ ra chính xác các "khâu yếu" trong quá trình bệnh nhân thao tác (Bước 3 và Bước 4), giúp nhân viên y tế tập trung điều chỉnh phương pháp hướng dẫn thay vì truyền thông chung chung.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế được đề cập trong văn bản: Nghiên cứu được thực hiện trong khoảng thời gian có hạn của một khóa luận cử nhân, quy mô mẫu nghiên cứu nhỏ ($n = 32$) do giới hạn bệnh nhân điều trị nội trú tại một thời điểm tại khoa Nội 1. Phương pháp truyền thông tại bệnh viện còn đơn điệu, chủ yếu bằng lời nói (84,4%), thiếu phòng giáo dục sức khỏe chuyên biệt và thiếu phương tiện nghe nhìn hỗ trợ (video chỉ đạt 3,1%).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu can thiệp có đối chứng, đánh giá hiệu quả cải thiện chức năng thông khí phổi (qua đo chức năng hô hấp hoặc phim X-quang kiểm tra mức độ dày dính màng phổi) sau khi áp dụng các giải pháp giáo dục sức khỏe đổi mới bằng video và tài liệu minh họa trực quan.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng tham khảo: Sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng, kỹ thuật viên Phục hồi chức năng, điều dưỡng viên lâm sàng tại các cơ sở điều trị bệnh phổi và lao màng phổi.
- Các phần nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Hệ thống bảng kiểm kỹ thuật (Phụ lục 3): Cung cấp tiêu chí lượng hóa chi tiết từng bước thao tác thở chúm môi và thở cơ hoành, có thể sử dụng làm công cụ chuẩn hóa đánh giá tay nghề hoặc theo dõi bệnh nhân.
- Số liệu phân tích lỗi sai kỹ thuật: Giúp các điều dưỡng viên nhận diện trước các thao tác bệnh nhân hay làm sai (điều tiết nhịp thở ra gấp đôi thì hít vào, cử động cơ bụng độc lập với lồng ngực) để kịp thời hướng dẫn sửa đổi trên lâm sàng.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nghiên cứu lại chọn kỹ thuật thở chúm môi và thở cơ hoành cho bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao?
Theo cơ sở lý thuyết của Bộ Y tế và y văn trong khóa luận, bệnh nhân TDMP do lao bị dịch chèn ép khoang màng phổi gây đau ngực và hạn chế thông khí, dẫn tới xu hướng thở nông, ứ đọng khí cặn và tăng nguy cơ dày dính màng phổi (tỷ lệ dày dính lên đến 70% - 73,8%). Thở chúm môi giúp tạo áp lực dương nhẹ giữ đường thở mở thông để tống hết khí cặn ra ngoài; thở cơ hoành giúp phục hồi biên độ hoạt động của cơ hoành vốn bị ức chế do màng phổi căng dịch, từ đó tăng độ giãn nở nhu mô phổi và phòng ngừa xẹp phổi.
2. Người bệnh tham gia nghiên cứu thường mắc lỗi ở những bước thực hành nào nhất?
Cả hai kỹ thuật tập thở đều ghi nhận tỷ lệ sai sót tập trung nhiều nhất ở Bước 3 và Bước 4:
- Ở kỹ thuật thở chúm môi: Bước 3 (thở ra bằng miệng chậm sao cho thời gian thở ra gấp đôi thời gian hít vào) có 53,1% người bệnh làm sai hoặc không làm; Bước 4 có 25,0% làm sai/không làm.
- Ở kỹ thuật thở cơ hoành: Bước 3 (hít vào chậm qua mũi để bụng phình lên, giữ lồng ngực không di chuyển) có 50,0% làm sai hoặc không làm; Bước 4 (hóp bụng lại, thở chậm qua miệng với thời gian gấp đôi lúc hít vào, tay cảm nhận bụng lõm xuống) có 37,5% làm sai hoặc không làm.
3. Những yếu tố nhân khẩu học nào có mối liên quan chặt chẽ đến kết quả thực hành tập thở của người bệnh?
Kiểm định thống kê Fisher's Exact Test xác nhận:
- Đối với thở chúm môi: Nhóm tuổi từ 18 đến 60 tuổi thực hành tốt hơn nhóm trên 60 tuổi ($p = 0,016$); nhóm có học vấn từ THPT trở lên thực hành tốt hơn nhóm dưới THPT ($p = 0,018$); nhóm duy trì tập thở thường xuyên làm tốt hơn nhóm thỉnh thoảng hoặc không tập ($p = 0,016$).
- Đối với thở cơ hoành: Yếu tố nghề nghiệp có mối liên quan rõ rệt ($p = 0,023$), trong đó nhóm bệnh nhân làm công nhân, cán bộ hoặc tự do tiếp thu và thao tác tốt hơn nhóm làm nông nghiệp.
4. Công tác tư vấn, hướng dẫn tập thở tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2020 có những ưu điểm và hạn chế gì?
- Ưu điểm: 100% người bệnh đều được nhân viên y tế chủ động tiếp cận tư vấn mà không cần bệnh nhân phải tự hỏi. Thời điểm hướng dẫn diễn ra rất sớm (81,3% được hướng dẫn ngay sau khi chọc hút dịch màng phổi lần đầu).
- Hạn chế: Hình thức hướng dẫn chủ yếu truyền miệng (84,4%), tỷ lệ làm mẫu chỉ đạt 43,8% và xem video chỉ có 3,1%. Địa điểm hướng dẫn phần lớn phải thực hiện tại buồng bệnh (62,5%) do thiếu phòng giáo dục sức khỏe riêng; điều dưỡng viên phải kiêm nhiệm nhiều việc chăm sóc chuyên môn nên thời gian theo dõi sát từng bệnh nhân còn hạn chế.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Mừng đã phản ánh khách quan thực trạng thực hành kỹ thuật phục hồi chức năng hô hấp ở 32 bệnh nhân tràn dịch màng phổi do lao tại Bệnh viện Phổi tỉnh Nam Định năm 2020, ghi nhận tỷ lệ thực hành chưa tốt còn chiếm đa số (53,1% ở thở chúm môi và 59,4% ở thở cơ hoành). Nghiên cứu khẳng định chất lượng thực hành của người bệnh chịu ảnh hưởng rõ rệt bởi các yếu tố độ tuổi, trình độ học vấn, thói quen tập luyện thường xuyên và nghề nghiệp. Đây là tài liệu thực chứng có giá trị ứng dụng cụ thể, làm cơ sở khoa học để các bệnh viện chuyên khoa hô hấp nâng cao chất lượng giáo dục sức khỏe và cải tiến quy trình chăm sóc điều dưỡng cho bệnh nhân lao màng phổi.