CHƯƠNG I TỔNG QUAN 1. Sơ lược về giải phẫu, sinh lý hệ tiêu hoá Hệ tiêu hóa ở người bao gồm đường tiêu hóa cộng với cơ quan phụ trợ tiêu hóa (lưỡi, tuyến nước bọt, tụy, gan và túi mật). Trong hệ thống này, quá trình tiêu hóa có nhiều giai đoạn, là hệ đầu tiên bắt đầu ở miệng (khoang miệng). Tiêu hóa liên quan đến sự phân hủy thức ăn thành các thành phần nhỏ hơn mà có thể hấp thụ và đồng hóa vào cơ thể [6][8][10].
Tiết nước bọt giúp thức ăn có thể nuốt được để vượt qua thực quản và tiến vào dạ dày. Thức ăn được vào đường tiêu hóa và trải qua sự tiêu hoá, là quá trình phân hủy những phân tử lớn thức ăn thành những phân tử nhỏ hơn. Tuy nhiên những phân tử dinh dưỡng nhỏ phải rời khỏi hệ tiêu hóa và đi vào cơ thể ngay trước khi chúng có thể được sử dụng. Điều này được hoàn thành bằng quá trình thứ hai được gọi là sự hấp thu, khi các phân tử thức ăn đi qua các màng huyết tương của ruột non vào máu.
Quá trình tiêu hóa xảy ra trong đường tiêu hóa hoặc ống tiêu hoá, trải dài từ miệng đến hậu môn. Hệ tiêu hóa được chia thành từng phần, với mỗi phần thích nghi với từng chức năng riêng. Ống tiêu hóa: miệng, hầu, thực quản, dạ dày, ruột non, ruột già, trực tràng, ống hậu môn và hậu môn. Những cấu trúc phối hợp: răng, môi, má, lưỡi, tuyến nước bọt, tuỵ, gan và túi mật.
Những phần của đường tiêu hóa có các chức năng chuyên biệt, nhưng tất cả đều được tạo bằng cùng những lớp mô cơ bản giống nhau. Thành của ống từ trong ra ngoài: niêm mạc, dưới niêm mạc, lớp cơ và lớp thanh mạc [6][8][10]. Miệng Miệng là phần đầu mở rộng của ống tiêu hoá. Miệng là nơi nhận thức ăn, răng nghiền thức ăn giai đoạn đầu, nước bọt làm mềm thức ăn, lưỡi vo tròn thức ăn thành từng khối nhỏ và đưa xuống thực quản.
Ngoài ra, tuyến nước Thang Long University Library 4 bọt cũng tiết ra amylase thuỷ phân tinh bột thành maltose. Tuyến nước bọt tiết ra 1000 – 1500 ml nước bọt/ ngày. Miệng là “cửa ngõ” của ống tiêu hóa, có nhiệu vụ tiêu hóa cơ học là chủ yếu. Hoạt động nhai giúp chia thức ăn thành những miếng nhỏ giúp việc tiêu hóa dễ dàng hơn.
Cùng lúc đó, nước bọt được tiết ra trộn với thức ăn để bắt đầu quá trình phân hủy tinh bột. Các viên thức ăn mềm, trơn được lưỡi đẩy xuống họng và thực quản[7][9]. Thực quản Thực quản dài 25 cm, có nhiệm vụ đưa thức ăn xuống dạ dày. Thực quản nằm dưới cổ họng, là một ống dài có chức năng đưa thức ăn xuống dạ dày.
Thực quản tạo những cơn nhu động co thắt để đẩy thức ăn xuống, đồng thời giữ thức ăn ở dạ dày không bị trào ngược lên bằng một “van” cơ học[6][8][10] 1. Dạ dày Là nơi chứa thức ăn và nhào trộn thức ăn với dịch dạ dày. Dạ dày chỉ hấp thu một số chất đơn giản như nước, thuốc, điện giải. Dạ dày tiết 2500 ml dịch vị/ ngày (chứa pepsinogen, HCl, lipase, yếu tố nội tại).Dạ dày là cơ quan quan trọng, nó được cấu tạo dạng một cái túi gồm rất nhiều cơ.
Khi tiếp nhận thức ăn từ thực quản xuống, acid và enzyme sẽ được tiết ra, trộn lẫn với thức ăn để thủy phân các protein và dưỡng chất cần thiết. Thời gian lưu trữ của thức ăn tại dạ dày khá lâu do phải thực hiện quá trình phân hủy hầu hết thức ăn, kết quả là dạng chất lỏng hoặc bột nhão sẽ được di chuyển xuống ruột non. Ruột non Gồm tá tràng, hỗng tràng, hồi tràng, dài 5,5 m – 7 m, ruột non làm nhiệm vụ tiêu hoá và hấp thu thức ăn. Ruột non tiết 3000ml dịch/ ngày (chứa entarokinase, amylase, peptidase, aminopepeptidase, maltase, sucrose, lactase, lipase.
Ruột non của con người dài đến 6 mét, là nơi thức ăn sẽ tiếp tục được phân hủy, phá vỡ cấu trúc nhờ các enzyme tiết ra từ mật gan hoặc tuyến tụy. 5 Với chiu dài như vậy¸ nhu động ruột giúp thức ăn di chuyển suốt cơ quan này, đồng thời trộn đều thức ăn với dịch tiêu hóa.Thức ăn qua ruột non tiếp tục được phân hủy tại tá tràng, sau đó dưỡng chất được hấp thụ tại hỗng tràng và hồi tràng trước khi chuyển vào máu[6][8][10][12]. Ruột già Ruột già dài 1,5 – 2 m gồm manh tràng, ruột thừa, đại tràng lên, đại tràng ngang, đại tràng xuống, đại tràng sigma, trực tràng. Nhiệm vụ của ruột già là hấp thu nước, điện giải, hình thành phân, chứa phân, đóng thành khối.
Phân gồm có nước, vi trùng, khoáng chất không tan, các chất không tiêu hoá được, sắc tố mật, chất nhầy ruột. Khi quá trình tiêu hóa, hấp thu dưỡng chất kết thúc, các chất còn lại không hấp thu được sẽ được chuyển xuống đại tràng ở dạng lỏng. Tại đây đại tràng tiếp tục hút nước từ dịch để chuyển chất thải thành dạng rắn, hay còn gọi là phân. Thông thường, phân được xử lý ở đại tràng trong khoảng 36 giờ.
Trực tràng nằm ngay dưới đại tràng, có chiều dài khoảng 20cm. Khi phân được di chuyển xuống đây, các dây thần kinh đặc biệt sẽ bị kích thích, sau đó truyền tín hiệu đến vỏ đại não cho biết bạn cần đi đại tiện.Ở trẻ nhỏ, đặc biệt là trẻ sơ sinh, chức năng này hoạt động chưa hoàn thiện nên trẻ chưa thể đi đại tiện tự chủ. Ở người lớn, khi muốn đi vệ sinh, não lại truyền tín hiệu làm giãn cơ vòng để đẩy phân ra khỏi cơ thể. Nếu muốn nhịn, cơ thắt và trực tràng sẽ điều chỉnh, tạm thời bỏ qua cảm giác muốn đi vệ sinh, phân tiếp tục được giữ lại tại đây[6][8][10].
Hậu môn Hậu môn là cơ quan cuối cùng của hệ tiêu hóa, được cấu tạo từ cơ sàn chậu và cơ thắt hậu môn. Chức năng của cơ quan này là lưu trữ và đào thải phân. Khi đi vệ sinh, hậu môn sẽ tiết dịch nhầy bôi trơn để phân có thể di chuyển dễ dàng khỏi cơ thể[6][7][8]. Như vậy, tiêu hóa thức ăn ở con người là một quá trình dài, phức tạp với Thang Long University Library 6 sự tham gia, phối hợp hoạt động của nhiều cơ quan trong cơ thể.
Bất cứ vấn đề xảy ra ở một cơ quan nào của hệ tiêu hóa đều có thể ảnh hưởng, làm định trệ việc tiêu hóa thức ăn và hấp thu dưỡng chất. Gan Gan nặng khoảng 2 – 3 kg ở người lớn. Nhiệm vụ chức năng, tuần hoàn là chứa và lọc máu , bài tiết mật, chuyển hoá đường, chất béo, protein, bilirubin, tích trữ vitamin, dự trữ sắt, khử độc và thoái biến thuốc và hoocmone ở gan.Gan có vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa, giúp tổng hợp protein huyết tương, dự trữ glycogen và thải độc. Đây được ví như nhà máy hóa chất của cơ thể, đảm trách và điều hòa các phản ứng hóa sinh.
Mật Đây là một túi nhỏ, nằm sát gan. có chiều dài khoảng 80 - 100mm. Túi mật có tác dụng co bóp đẩy dịch mật vào ống mật chủ, từ đó vào tá tràng và xuống ruột non, giúp tiêu hóa các chất béo. Túi mật có vai trò quan trọng trong hệ tiêu hóa của cơ thể.
Mật nối tiếp với gan qua ống mật gan phải và trái tạo thành ống gan chung, khi tiếp nhận ống túi mật tạo thành ống mật chủ và xuống tá tràng. Mật bài tiết mỗi ngày 1000 ml, có nhiệm vụ tiêu hoá chất béo. Tụy Tuỵ gồm tuyến ngoại tiết tiết ra 700 ml dịch tuỵ/ ngày, chứa amylase, lipase, trypsinogen, chymotrypsinogen, có nhiệm vụ tiêu hoá carbohydrase, protein và chất béo. Tuyến tụy có nhiều chức năng khác nhau, trong quá trình tiêu hóa thức ăn tuyến tụy tiết ra một số enzyme vào ruột non để phân hủy protein, chất béo và carbohydrate có trong thức ăn.
Tuyến tuỵ nội tiết tiết ra inulin [6][8][10][12].1 Hình ảnh giải phẫu hệ tiêu hoá [8] 1. Định nghĩa tiêu chảy - Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc toé nước trên 3 lần/ngày - Đợt tiêu chảy là thời gian được xác định từ ngày đầu tiên bị tiêu chảy tới ngày mà sau đó 2 ngày phân bình thường. Nếu sau 2 ngày trẻ bị tiêu chảy trở lại, thời gian này được tính vào đợt tiêu chảy mới [6][17]. - Tiêu chảy kéo dài là một đợt tiêu chảy khởi đầu cấp tính và kéo dài trên 14 ngày [6].
- Cần phân biệt tiêu chảy kéo dài với tiêu chảy mạn và hội chứng kém hấp thu khi đó trẻ bị tiêu chảy kèm theo các rối loạn hấp thu, rối loạn tiêu hoá kéo dài nhiều tháng do nguyên nhân bẩm sinh như thiếu các men disaccharide tiên phát, bệnh xơ nang tuỵ hoặc mắc phải như bệnh Coeliac, bệnh Spru nhiệt đới [18][20][25]. Thang Long University Library 8 1. Dịch tễ học 1. Tần suất mắc bệnh Tần suất và tỷ lệ mắc tiêu chảy kéo dài thay đổi theo từng vùng và từng nghiên cứu.
Một người được coi là gặp phải tình trạng tiêu chảy nhiều lần là khi trong 1 ngày có hơn 3 lần đi ngoài và khối lượng của phân bài tiết trên 200gr/ngày. Có thể ước lượng như sau: Người trưởng thành: tiêu chảy với trọng lượng phân là > 200gr/ngày; Trẻ em: đi ngoài với trọng lượng phân > 20gr/ngày; Trong phân chứa nhiều chất lỏng. Thông thường một người đại tiện thì có 60% là nước trong phân nhưng những người bị tiêu chảy thì phải có đến hơn 90% trọng lượng của phân là nước [12][13]. Đường lây truyền Bệnh lây truyền qua đường phân – miệng : thức ăn, nước uống bị ô nhiễm bẩn do phân của người và súc vật mang mầm bệnh là nguồn lây bệnh cho cộng đồng[21][25].
Yếu tố nguy cơ gây tiêu chảy kéo dài 1. Tuổi Tần suất mắc phải tiêu chảy tiêu chảy kéo dài cao nhất ở nhóm trẻ từ 06 – 24 tháng tuổi, trẻ dưới 1 tuổi chỉ số mới mắc chiếm tỷ lệ cao nhất [1][9]. Nguy cơ một đợt tiêu chảy cấp trở thành tiêu chảy kéo dài giảm dần theo tuổi. Tỷ lệ mắc tiêu chảy kéo dài ở trẻ trong năm đầu là 22 %, tỷ lệ này giảm xuống còn 10% ở trê 1 – 2 tuổi và 7 % ở trẻ 2 – 3 tuổi [6][22].
Tình trạng dinh dưỡng. Bất kỳ ai cũng có nguy cơ bị tiêu chảy và tần suất tiêu chảy càng nhiều, thời gian bị tiêu chảy càng kéo dài thì nguy cơ biến chứng nghiêm trọng sẽ càng cao. Đối với trẻ nhỏ khi bị tiêu chảy: gây rối loạn chức năng hấp thu dinh 9 dưỡng trong đường ruột, giảm sức đề kháng, sụt cân, cơ thể suy nhược và có thể dẫn tới tử vong;Thiếu hụt một số yếu tố vi lượng như kẽm, sắt, acid folic và vitamin ( vitamin A.