Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển kinh tế xã hội thúc đẩy nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng tăng cao. Tại Việt Nam, hệ thống y tế công lập chịu áp lực quá tải nặng nề do ngân sách nhà nước còn hạn chế và nguồn thu viện phí chưa đủ bù đắp chi phí đầu tư trang thiết bị hiện đại. Tính đến tháng 5 năm 2011, cả nước đã có 66 bệnh viện tư nhân cùng 87.653 cơ sở y tế tư nhân được cấp phép hoạt động. Tại tỉnh Bình Định, quy mô dân số năm 2010 đạt 1.493,1 nghìn người, GDP bình quân đầu người tăng lên mức 940 USD, kéo theo nhu cầu khám chữa bệnh chất lượng cao ngày càng cấp thiết. Số lượng cơ sở y tế tư nhân trên địa bàn tỉnh đã gia tăng nhanh chóng từ 115 cơ sở năm 2006 lên 248 cơ sở vào năm 2010.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu khám chữa bệnh đa dạng của người dân và năng lực cung ứng còn nhiều hạn chế của hệ thống y tế địa phương. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về phát triển dịch vụ y tế tư nhân; đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động y tế tư nhân tại Bình Định giai đoạn 2006 - 2010; xác định rõ nguyên nhân cản trở và đề xuất hệ thống giải pháp đẩy mạnh phát triển dịch vụ y tế tư nhân giai đoạn 2011 - 2015, có tính đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 248 cơ sở khám chữa bệnh tư nhân trên địa bàn 11 huyện và thành phố Quy Nhơn trong mốc thời gian từ năm 2006 đến năm 2010. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp luận cứ khoa học xác thực cho các nhà hoạch định chính sách địa phương. Kết quả nghiên cứu giúp tối ưu hóa chỉ tiêu 22 giường bệnh trên 1 vạn dân, đồng thời nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực y tế tư nhân vốn đang đảm nhận hơn 60% tổng số lượt khám chữa bệnh ngoại trú toàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết kinh tế học y tế hiện đại, đặc biệt là lý thuyết thất bại thị trường và hiện tượng bất đối xứng thông tin giữa thầy thuốc và bệnh nhân do Giáo sư Joseph Stiglitz cảnh báo. Trong thị trường y tế, mối quan hệ cung cầu mang tính chất đặc thù khi người bệnh không thể tự quyết định phương pháp điều trị mà phụ thuộc hoàn toàn vào chỉ định của bên cung cấp, dẫn đến hiện tượng cung quyết định cầu.

Khung phân tích của đề tài tích hợp hệ thống phân loại dịch vụ y tế của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT của Bộ Y tế. Dịch vụ y tế được phân chia thành ba nhóm hàng hóa chủ đạo: dịch vụ y tế công cộng (public good), dịch vụ y tế ưu tiên (merit good) và dịch vụ y tế cá nhân (private good). Luận văn làm rõ các khái niệm cốt lõi: dịch vụ y tế tư nhân là loại hình khám chữa bệnh có mục đích kinh doanh do các cơ sở ngoài công lập cung ứng; chất lượng dịch vụ y tế bao gồm chất lượng kỹ thuật (độ chính xác trong chẩn đoán, điều trị) và chất lượng chức năng (thái độ phục vụ, cơ sở vật chất, quy trình khám bệnh).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ niên giám thống kê tỉnh Bình Định, báo cáo tổng kết của Sở Y tế Bình Định, dữ liệu Bảo hiểm Xã hội tỉnh và kết quả điều tra thực tế tại các cơ sở hành nghề y tư nhân giai đoạn 2006 - 2010.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện trên tổng thể 248 cơ sở y tế tư nhân đăng ký hoạt động. Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu có chủ đích tại 3 địa bàn trọng điểm đại diện cho các vùng sinh thái kinh tế: thành phố Quy Nhơn (144 cơ sở đại diện đô thị), huyện An Nhơn (21 cơ sở đại diện đồng bằng) và huyện Vĩnh Thạnh (4 cơ sở đại diện miền núi). Cỡ mẫu nhân sự y tế được phân tích chi tiết gồm 467 cán bộ chuyên môn.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích thực chứng, so sánh chuỗi thời gian và thống kê toán học là nhằm lượng hóa chính xác tốc độ tăng trưởng cơ sở, quy mô vốn, doanh thu thuần và năng suất lao động. Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử giúp đánh giá khách quan mối quan hệ tương hỗ công - tư trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô mạng lưới y tế tư nhân tăng trưởng nhanh về số lượng nhưng quy mô vốn đầu tư vẫn rất khiêm tốn. Số lượng cơ sở y tế tư nhân tại Bình Định tăng liên tục từ 115 cơ sở năm 2006 lên 248 cơ sở năm 2010, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân trên 21%/năm. Tổng doanh thu toàn khu vực năm 2010 đạt 344.623 triệu đồng, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2006. Tuy nhiên, tổng vốn đầu tư đăng ký năm 2010 chỉ đạt 13.859 triệu đồng, tương đương mức vốn kinh doanh bình quân 55,9 triệu đồng/cơ sở. Riêng 240 phòng khám chuyên khoa có mức vốn bình quân chỉ đạt 3,3 triệu đồng/cơ sở.

Thứ hai, cơ cấu loại hình và không gian phân bố địa lý mất cân đối nghiêm trọng. Phòng khám chuyên khoa chiếm tới 96,8% (240 cơ sở), phòng khám đa khoa chiếm 2,8% (7 cơ sở), trong khi loại hình bệnh viện tư chỉ có 1 cơ sở duy nhất (Bệnh viện Hòa Bình với 80 giường bệnh, chiếm 0,4%). Về phân bố địa bàn, 58% cơ sở (144 cơ sở) tập trung tại thành phố Quy Nhơn, huyện Hoài Nhơn chiếm 14% (35 cơ sở), trong khi các huyện miền núi như Vân Canh chỉ có 2 cơ sở (1%), còn An Lão và Hoài Ân không có cơ sở nào được cấp phép chính thức.

Thứ ba, dịch vụ y tế tư nhân đảm nhận tỷ trọng lớn trong khám chữa bệnh ngoại trú nhưng năng lực kỹ thuật cao còn hạn chế. Khu vực tư nhân cung cấp hơn 60% dịch vụ khám chữa bệnh ngoại trú với 403.500 lượt khám năm 2010, nhưng chỉ đóng góp 4% dịch vụ điều trị nội trú và 11% dịch vụ phòng bệnh. Trang thiết bị tại các cơ sở chủ yếu là dụng cụ cơ bản như ống nghe (93,3%), nhiệt kế (99,4%), huyết áp kế (95,8%). Tỷ lệ trang bị máy siêu âm màu chỉ đạt 26,8%, máy X-quang đạt 2,8% và máy chụp CT-Scanner chỉ đạt 1,2%.

Thứ tư, nguồn nhân lực y tế tư nhân gia tăng về số lượng nhưng phụ thuộc lớn vào khu vực công. Tổng số lao động y tế tư nhân năm 2010 là 546 người, chiếm 13,6% nhân lực y tế toàn tỉnh. Tuy nhiên, có gần 70% bác sĩ là cán bộ, viên chức nhà nước tham gia hành nghề ngoài giờ; số lao động làm việc chuyên trách thực tế chỉ có khoảng 164 người.

Thảo luận kết quả

Khi mô tả dữ liệu bằng biểu đồ tròn cơ cấu loại hình dịch vụ kết hợp bảng phân tích tương quan giữa doanh thu và năng suất lao động, bức tranh phát triển của y tế tư nhân Bình Định bộc lộ sự phát triển chủ yếu theo chiều rộng. Năng suất lao động bình quân đạt 631 triệu đồng/lao động, trong đó phòng khám chuyên khoa đạt cao nhất với 606 triệu đồng/lao động, cao gấp 2,84 lần so với bệnh viện tư nhân (213 triệu đồng/lao động).

Nguyên nhân chính dẫn đến sự tập trung cơ sở tại đô thị là do động cơ lợi nhuận của các nhà đầu tư tư nhân, nơi có mật độ dân số cao và khả năng chi trả tốt. Thủ tục thành lập bệnh viện tư phức tạp cùng nhu cầu vốn lớn đã cản trở việc hình thành các cơ sở điều trị nội trú quy mô lớn. Tình trạng bác sĩ công lập hành nghề ngoài giờ giúp giải quyết bài toán thiếu hụt nhân lực trước mắt nhưng tiềm ẩn nguy cơ xung đột lợi ích và giảm chất lượng dịch vụ nếu không được giám sát chặt chẽ.

Kết quả nghiên cứu tại Bình Định tương đồng với các công trình nghiên cứu quốc tế của Woolhandler và Himmelstein cũng như các cảnh báo từ tổ chức OECD. Khi thị trường y tế thiếu sự kiểm soát giá, các cơ sở tư nhân thường có chi phí điều trị cao hơn từ 19% đến 91% so với y tế công và có xu hướng lạm dụng chỉ định xét nghiệm, bán thuốc kèm khám bệnh để tối đa hóa doanh thu.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy hoạch mạng lưới y tế tư nhân và ban hành cơ chế khuyến khích đầu tư. Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Định phối hợp với Sở Y tế xây dựng đề án quy hoạch mạng lưới cơ sở khám chữa bệnh tư nhân giai đoạn 2011 - 2015. Mục tiêu là nâng tỷ trọng cơ sở y tế tư nhân tại các huyện nông thôn và miền núi lên mức tối thiểu 25% tổng số cơ sở vào năm 2015. Chính quyền địa phương cần áp dụng chính sách ưu đãi miễn giảm tiền thuê đất và hỗ trợ lãi suất vay vốn cho các dự án xây dựng bệnh viện tư nhân quy mô từ 50 đến 100 giường bệnh tại các vùng ngoài đô thị Quy Nhơn.

Thứ hai, tăng cường công tác thanh tra, giám sát chất lượng kỹ thuật và kiểm soát giá dịch vụ y tế. Sở Y tế Bình Định chủ trì, phối hợp với Chi cục Quản lý thị trường thiết lập cơ chế kiểm tra định kỳ hàng quý đối với 100% cơ sở hành nghề y dược tư nhân. Cơ quan quản lý cần kiên quyết xử lý triệt để tình trạng khám bệnh kiêm bán thuốc tại chỗ, công khai bảng giá dịch vụ khám chữa bệnh và phấn đấu kéo giảm 30% tỷ lệ chỉ định xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh trùng lặp trong giai đoạn 2012 - 2015.

Thứ ba, mở rộng mô hình hợp tác công - tư và tích hợp chính sách Bảo hiểm Y tế toàn dân. Bảo hiểm Xã hội tỉnh Bình Định phối hợp cùng Sở Y tế tiến hành ký hợp đồng khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế với ít nhất 50% phòng khám đa khoa và bệnh viện tư nhân đủ điều kiện kỹ thuật trước năm 2014. Giải pháp này giúp phân luồng bệnh nhân hợp lý, nâng công suất sử dụng giường bệnh nội trú tư nhân và giảm tải trực tiếp 15% áp lực bệnh nhân cho các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.

Thứ tư, chuẩn hóa và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực y tế chuyên trách. Sở Y tế tỉnh Bình Định tổ chức các chương trình đào tạo liên tục về y đức và cập nhật kiến thức chuyên môn bắt buộc cho 100% người hành nghề tư nhân hàng năm. Đồng thời, tỉnh cần ban hành quy chế quản lý chặt chẽ thời gian làm việc của bác sĩ công lập, khuyến khích các cơ sở tư nhân tuyển dụng đội ngũ bác sĩ chuyên trách toàn thời gian nhằm hạ tỷ lệ phụ thuộc nhân sự làm ngoài giờ từ gần 70% xuống dưới 40% vào năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách y tế tại địa phương bao gồm Sở Y tế, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp hệ thống số liệu thực chứng về mạng lưới 248 cơ sở y tế và cơ sở lý luận để xây dựng đề án xã hội hóa y tế, quy hoạch phân bổ địa bàn và hoàn thiện quy trình cấp phép hành nghề.

Nhóm các nhà đầu tư, chủ doanh nghiệp y tế và ban quản trị các bệnh viện, phòng khám tư nhân. Công trình nghiên cứu giúp nhận diện rõ bức tranh cung cầu dịch vụ, cơ cấu chi phí, mức doanh thu bình quân 1.389,6 triệu đồng/cơ sở và năng suất lao động từng phân khúc. Từ đó, nhà đầu tư có thể đưa ra quyết định mua sắm trang thiết bị và lựa chọn mô hình phòng khám chuyên khoa hay bệnh viện đa khoa tối ưu.

Nhóm giảng viên, học viên cao học và nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý kinh tế, Kinh tế y tế và Quản trị dịch vụ công. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận nghiên cứu thực chứng, cách tiếp cận xử lý chuỗi dữ liệu kinh tế y tế cấp tỉnh và mô hình hóa tác động tương hỗ giữa y tế công và y tế tư.

Nhóm cơ quan Bảo hiểm Xã hội và các tổ chức giám sát chất lượng y tế cộng đồng. Tài liệu cung cấp góc nhìn toàn diện về thực trạng chi phí khám chữa bệnh, tỷ lệ chi trả thuốc chiếm 40% tổng chi phí và các căn cứ thực tiễn để xây dựng quy chế giám định Bảo hiểm Y tế đối với khu vực ngoài công lập.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao số lượng phòng khám chuyên khoa tư nhân tại Bình Định lại chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 96,8% tổng số cơ sở?

Phòng khám chuyên khoa phát triển mạnh do yêu cầu vốn đầu tư ban đầu rất thấp, bình quân chỉ khoảng 3,3 triệu đồng/cơ sở và thủ tục thành lập tương đối thuận lợi. Hơn nữa, gần 70% bác sĩ công lập tận dụng năng lực chuyên môn sẵn có để mở phòng khám ngoài giờ nhằm gia tăng thu nhập mà không phải chịu chi phí vận hành bộ máy phức tạp.

Khu vực y tế tư nhân tỉnh Bình Định giữ vai trò chủ đạo trong phân khúc chăm sóc sức khỏe nào?

Y tế tư nhân giữ vai trò trụ cột trong phân khúc khám chữa bệnh ngoại trú ban đầu khi đảm nhận hơn 60% tổng lượt khám toàn tỉnh, đạt 403.500 lượt vào năm 2010. Ngược lại, điều trị nội trú chỉ chiếm 4% và dịch vụ phòng bệnh chỉ chiếm 11% do các cơ sở tư nhân thiếu giường bệnh và trang thiết bị hồi sức cấp cứu chuyên sâu.

Tình trạng tập trung 58% cơ sở y tế tư nhân tại thành phố Quy Nhơn gây ra những hệ quả kinh tế xã hội gì?

Hiện tượng này tạo ra sự mất cân bằng nghiêm trọng về cơ hội tiếp cận dịch vụ y tế giữa thành thị và nông thôn. Người dân tại các huyện vùng sâu, vùng xa như An Lão hay Vân Canh buộc phải di chuyển về trung tâm thành phố, làm phát sinh chi phí đi lại và gây quá tải áp lực phục vụ lên hạ tầng đô thị Quy Nhơn.

Bất đối xứng thông tin trong y tế tư nhân tác động tiêu cực như thế nào đến quyền lợi của người bệnh?

Người bệnh thường thiếu kiến thức chuyên môn y khoa nên phải phụ thuộc hoàn toàn vào chỉ định của thầy thuốc. Tại một số cơ sở tư nhân, sự bất đối xứng này dẫn đến tình trạng lạm dụng chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng không cần thiết và hiện tượng khám bệnh kiêm bán thuốc giá cao, làm tăng gánh nặng tài chính của người dân.

Giải pháp trọng tâm nào giúp y tế tư nhân Bình Định phát triển bền vững giai đoạn 2011 - 2015?

Giải pháp cốt lõi là mở rộng ký hợp đồng khám chữa bệnh Bảo hiểm Y tế với ít nhất 50% cơ sở tư nhân đủ chuẩn, kết hợp quy hoạch phân bổ mạng lưới về các huyện nông thôn. Đồng thời, ngành y tế cần chuẩn hóa công tác thanh tra chất lượng kỹ thuật của 100% cơ sở nhằm bảo đảm an toàn điều trị.

Kết luận

  • Mạng lưới y tế tư nhân Bình Định tăng trưởng ấn tượng từ 115 cơ sở năm 2006 lên 248 cơ sở năm 2010, đóng góp tổng doanh thu 344.623 triệu đồng.
  • Khu vực tư nhân giữ vai trò giảm tải hiệu quả cho y tế công lập khi giải quyết hơn 60% nhu cầu khám bệnh ngoại trú với 403.500 lượt khám.
  • Cơ cấu loại hình và địa bàn còn mất cân đối nghiêm trọng khi phòng khám chiếm 96,8%, 58% cơ sở dồn về thành phố Quy Nhơn và mức vốn bình quân chỉ đạt 55,9 triệu đồng/cơ sở.
  • Nguồn nhân lực thiếu tính ổn định lâu dài do gần 70% bác sĩ là cán bộ y tế nhà nước làm việc ngoài giờ.
  • Công tác quản lý nhà nước về giá cả dịch vụ, kiểm soát kê đơn bán thuốc và trang thiết bị kỹ thuật cao cần được chấn chỉnh đồng bộ.

Định hướng giai đoạn 2011 - 2015, tỉnh Bình Định cần khẩn trương hoàn thiện quy hoạch y tế công - tư, đẩy mạnh xã hội hóa đầu tư bệnh viện chất lượng cao và tăng cường bao phủ Bảo hiểm Y tế toàn dân đến năm 2020. Các nhà quản lý, doanh nghiệp y tế và nhà nghiên cứu hãy chủ động khai thác các phát hiện từ luận văn để xây dựng chính sách y tế địa phương ngày càng vững mạnh.