đặt vấn đề cho đề tài, nêu rõ tính cấp thiết cho đề tài, các mục tiêu của bài nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu và mô tả đối tượng cũng như phạm vi của nghiên cứu. Ngoài ra, tác giả còn nêu các phương pháp sẽ dùng trong bài nghiên cứu, ý nghĩa về mặt thực tiễn và khoa học của đề tài cũng như bố cục cả bài của nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Khái niệm về ý định mua hàng Hiện nay khái niệm Ý định mua hàng có nhiều quan điểm khác nhau như: Burnkrant và Bagozzi (1979) cho rằng ý định mua hàng là một yếu tố quan trọng đối với người tiêu dùng và được để dự đoán các hành vi mua sắm. Tuy nhiên, ý định mua hàng có thể thay đổi do những yếu tố như nhận thức về giá cả, chất lượng sản phẩm hoặc giá trị cảm nhận (Zeithaml, 1998).
Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua hàng luôn là một đề tài nóng trong và ngoài nước, xoay quanh các đặc tính tâm lý của người mua, thông tin bên ngoài sản phẩm, giá trị sử dụng sản phẩm, tình hình tiêu dùng và các yếu tố kinh tế, xã hội khác. Theo Kanuk và Schiffman (2007), ý định mua hàng, thể hiện mong muốn và ý chí của người tiêu dùng trong việc mua sắm các dịch vụ, sản phẩm. Nếu mức độ ý định càng cao thì người tiêu dùng mua sắm sẽ càng lớn. Tóm lại, ý định mua thể hiện mong muốn và ý chí của người tiêu dùng trong việc lựa chọn mua hay không mua một dịch vụ, sản phẩm cụ thể.
Thể hiện mức độ quan tâm, mong muốn khi phải đưa ra quyết định mua sắm trong tương lai gần. Do đó, nghiên cứu về ý định mua của khách hàng giúp các nhà quản lý đưa ra các quyết định có căn cứ để gia tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp trên thị trường. Trên nền tảng nghiên cứu này, tác giả sử dụng khái niệm ý định mua để chỉ ý định mua hàng mỹ phẩm nội địa Trung Quốc của sinh viên tại TP.2 Khái niệm về mỹ phẩm Theo Thông tư số 06/2011/TT-BYT của Bộ Y tế định nghĩa: “Sản phẩm mỹ phẩm là một chất hay chế phẩm được sử dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay, móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làm sạch, làm 9 thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt”.3 Các mô hình lý thuyết liên quan Một số mô hình sau được xem là cơ sở để nghiên cứu về các lý thuyết ý định mua của người tiêu dùng như: mô hình thuyết hành vi hợp lý (Fishbein và Ajzen, 1975), mô hình thuyết hành vi có kế hoạch (Ajzen, 1985). Dựa trên nền tảng các nghiên cứu tiền nhiệm trong lĩnh vực tương tự, tác giả vận dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) do Ajzen (1991) đề xuất.
Lý thuyết này được xem là mô hình mở rộng của lý thuyết hành vi hợp lý (TRA) do Fishbein và Ajzen (1975) phát triển. Nhờ tính ứng dụng cao và được công nhận rộng rãi, lý thuyết TPB trở thành lý thuyết chính yếu cho các nghiên cứu về ý định mua của người tiêu dùng, cũng như mối quan hệ giữa thái độ, niềm tin và ý định hành vi trong nhiều lĩnh vực khác nhau như thương mại, chăm sóc sức khỏe, hệ thống thông tin, quảng cáo,.Theo lý thuyết TPB, ý định đóng vai trò then chốt dẫn dắt hành vi. Nó thể hiện mức độ cố gắng, nỗ lực mà cá nhân sẵn sàng dành cho việc thực hiện hành vi cụ thể nào đó. TPB bao gồm 3 yếu tố chính: • Thái độ: Mức độ đánh giá tích cực, tiêu cực của cá nhân đối với hành vi cụ thể.
• Niềm tin chuẩn mực: Mức độ tin tưởng vào quan điểm và mong đợi của những người quan trọng xung quanh đối với hành vi. • Nhận thức kiểm soát hành vi: Mức độ tin tưởng của cá nhân vào khả năng thực hiện hành vi thành công. Mô hình Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Nguồn: Ajzen, 1991) 2.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu đi trước 2.1 Các nghiên cứu trong nước Trần Yến Vy và cộng sự (2022) đã tiến hành nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua mỹ phẩm NĐT của nữ thanh niên Việt Nam. Nghiên cứu này đề xuất và kiểm định mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến ý định mua, sử dụng phân tích EFA và Cronbach's Alpha để đánh giá độ tin cậy và tính phân biệt của các chỉ số đo.
Kiểm định các giả thuyết nghiên cứu, sử dụng phân tích CFA và SEM. Dữ liệu được thu thập từ 582 người tiêu dùng đã cho thấy rằng áp lực từ đồng trang lứa có tác động đến cảm nhận về hình ảnh thương hiệu, niềm tin vào thương hiệu và cảm nhận về chất lượng. Qua đó, ảnh hưởng đến ý định và thái độ mua MPNĐT. Yếu tố về Thành kiến quốc gia và cảm nhận về giá cả cũng đóng vai trò mạnh mẽ trong quyết định mua mỹ phẩm nội địa Trung Quốc.
Nguyễn Thu Thủy (2023) đã khám phá vai trò của ảnh hưởng đồng trang lứa đến hành vi tiêu dùng đồng thời xem xét vai trò của thành kiến quốc gia trong liên hệ giữa hình ảnh thương hiệu sản phẩm và cảm nhận về chất lượng. Nghiên cứu này được thực hiện trên mẫu gồm 582 thanh niên tại Hà Nội. Tác giả đã sử dụng phân tích hệ số Cronbach’s Alpha, EFA và CFA để đánh giá thang đo cho phân tích SEM. 11 Nhóm tham khảo như bạn bè, đồng nghiệp có tác động đáng kể đến hình ảnh thương hiệu và cảm nhận sản phẩm.
Đó là lý do gây chi phối đến hành vi tiêu dùng mỹ phẩm NĐT. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra thành kiến quốc gia giữa các cá nhân là khác nhau. Cuối cùng, tác giả đề xuất giải pháp hữu ích trong việc tiến hành chiến lược marketing để thúc đẩy người tiêu dùng mua sản phẩm. Mô hình nghiên cứu đi trước 1 (Nguồn: Nguyễn Thu Thủy, 2023) Nguyễn Thị Ngọc Miên (2017) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua sản phẩm Trung Quốc của người tiêu dùng tại Việt Nam.
Tác giả đã khảo sát trên 200 người và thu về số phiếu trả lời hợp lệ là 180. Qua việc kỹ thuật phân tích EFA, mô hình cấu trúc SEM được sử dụng để đánh giá ảnh hưởng của các biến độc lập như niềm tin của người tiêu dùng đối với sản phẩm Trung Quốc, tính vị chủng, sự thù địch đến biến sẵn lòng mua. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tính vị chủng, niềm tin đối với sản phẩm ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua hàng Trung Quốc của người Việt. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng cho thấy rằng, sự thù địch không ảnh hưởng đến sự sẵn lòng mua hàng Trung Quốc của giới trẻ Việt Nam.
Nguyễn Hoài Tú Nguyên và Nguyễn Thị Bích Ngọc (2021) đã thực hiện nghiên cứu về ý định mua mỹ phẩm của khách hàng nữ thuộc thế hệ gen Z tại thành 12 phố Hồ Chí Minh. Với 300 bảng hỏi được thu về qua quá trình thu thập và thống kê dữ liệu, thông qua kiểm định độ tin cậy, phân tích EFA và tương quan, hồi quy. Nhóm tác giả kết luận các yếu tố thương hiệu và nhóm tham khảo là những yếu tố có tác động đáng kể nhất trong nghiên cứu. Nghiên cứu giúp định hướng các thông tin hữu ích cho các doanh nghiệp trong hướng phát triển trong tương lai.2 Các nghiên cứu ngoài nước Min Wang (2021) tiến hành nghiên cứu thực nghiệm về ý định mua mỹ phẩm của khách hàng đối với mỹ phẩm truyền thống Trung Quốc.
Nghiên cứu xác định mối quan hệ giữa nhận diện thương hiệu của khách hàng và giá trị cảm nhận với hành vi mua hàng, đồng thời phân tích tác động điều tiết của nhóm tham khảo. Thông qua 299 mẫu khảo sát được tổng hợp ngẫu nhiên. Kết quả cho thấy sự đồng thuận của nhóm có ảnh hưởng đáng kể đến mối quan hệ giữa nhận diện thương hiệu mỹ phẩm nội địa và ý định mua hàng của người tiêu dùng. Giá trị cảm nhận càng cao thì ý định mua hàng càng cao.
Nhận diện thương hiệu đóng vai trò trung gian quan trọng và tích cực giữa giá trị cảm nhận và ý định mua hàng. Các nhóm tuổi khác nhau và các nhóm giới tính khác nhau có sự khác biệt đáng kể về giá trị dịch vụ, giá trị kinh tế và tính nhất quán của nhóm, do đó cần phân loại vai trò của người tiêu dùng và thực hiện tùy chỉnh cá nhân hóa. Mô hình nghiên cứu đi trước 2 (Nguồn: Min Wang, 2021) 13 Hardiyanti và Gatot (2020) đã Phân tích ảnh hưởng của giá cả, thiết kế sản phẩm, hình ảnh thương hiệu và người nổi tiếng làm đại diện cho sản phẩm có tác động đến sự quan tâm mua hàng của mỹ phẩm NĐT, nghiên cứu về hãng mỹ phẩm Focallure. Sử dụng thang đo Likert và dữ liệu được xử lý bằng SPSS với tổng số mẫu là 45 người trả lời.
Kỹ thuật thu thập dữ liệu bằng phương pháp bảng câu hỏi. Kiểm định giả thuyết bằng cách sử dụng thống kê t, thống kê f và R². Kết quả của nghiên cứu cho thấy hình ảnh thương hiệu và giá cả, có ảnh hưởng quan trọng đến Ý định mua, thiết kế sản phẩm không ảnh hưởng đáng kể, người nổi tiếng không ảnh hưởng đáng kể đến Ý định mua vì người tiêu dùng không xem là nguồn tham khảo chính để mua sản phẩm. Ngoài ra, kết quả chứng minh rằng khi các yếu tố đồng thời ảnh hưởng đến Ý định mua khi giá cả phải chăng, mẫu mã sản phẩm hấp dẫn, hình ảnh thương hiệu tốt và người có sức ảnh hưởng càng hấp dẫn thì người tiêu dùng sẽ càng bị thu hút mua hàng.
Mô hình nghiên cứu đi trước 3 (Nguồn: Hardiyanti và Gatot, 2020) Binyan Li (2021) đã nghiên cứu các đặc điểm tiêu dùng của nữ sinh viên đại học để từ đó nâng cao chiến lược tiếp thị mỹ phẩm nội địa Trung Quốc. Với phương pháp nghiên cứu là thu thập và điều tra tài liệu. Từ đó dẫn tới cách tiếp cận toàn diện, đa diện để nắm vững các vấn đề cần nghiên cứu. Thông qua các từ khóa như thương hiệu mỹ phẩm nội địa và hành vi tiêu dùng của sinh viên đại học để tìm hiểu về thực 14 trạng nghiên cứu và kết quả nghiên cứu.