CHƯƠNG I - TÔNG QUAN 1. Nhân lực y tế và thực trạng nguồn nhân lực y tế 1.1 Khái niệm nhân lực y tế Theo định nghĩa của WHO (2006), Nhân lực Y tế bao gồm tất cả những người chủ yếu tham gia vào các hoạt động nhằm nâng cao sức khỏe. Theo đó, nhân lực y tế bao gồm tất cả những người cung cấp dịch vụ y tế, người làm công tác quản lý và cả nhân viên giúp việc mà không trực tiếp cung cấp các dịch vụ y tế [27]. Theo định nghĩa của WHO, ở Việt Nam các nhóm đối tượng được coi là "Nhân lực y tế” bao gồm: cán bộ, NVYT thuộc biên chế và hợp đồng đang làm trong hệ thống y tể công lập (bao gồm cả quân y), các cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học y/dược và tất cả những người đang tham gia vào các hoạt động quản lý và cung ứng dịch vụ chăm sóc sức khỏe (CSSK).2 Thực trạng nguồn nhân lực y tế 1.1 Thực trạng nguồn nhân lực y tế trên thế giới Theo báo cáo của WHO (2006) có khoảng 59 triệu nhân viên y tế trên toàn thế giới.
Trong đó những người cung cấp dịch vụ y tế chiếm 67% tổng số cán bộ y tế, và trong số này, có đến 57% ở châu Mỹ. số lượng y tá/1000 bác sỹ cao nhất tại khu vực châu Phi do số lượng bác sỹ/1000 dân tại khu vực này là rất thấp. Tỷ lệ này thấp nhất tại khu vực Tây Thái Bình Dương [27]. Sự phân bổ nhân viên y tế trên toàn cầu là không đồng đều, những quốc gia có nhu cầu liên quan đến y tế thấp nhất lại có số lượng nhân viên y tế nhiều nhất.
Ở khu vực châu Mỹ, bao gồm Canada và Mỹ chỉ chiếm 10% gánh nặng bệnh tật toàn cầu nhưng có tới 37% nhân viên y tế trên toàn thế giới sống ở khu vực này và chiếm hơn 50% chi tiêu y tể toàn cầu [27]. Sự phân bổ không đồng đều này còn thể hiện giữa các khu vực trong cùng một quốc gia. Ví dụ như tại Việt Nam, trung bình có hơn 1 nhân viên y tế/1000 dân. Nhưng trên thực tế, 37/61 tỉnh thành của Việt Nam có tỷ lệ dưới mức trung bình toàn quốc.
Điều này cũng diễn ra tương tự ở các quốc gia khác [27]. 7 Tổ chức Y tế Thế giới ước lượng ràng, hiện nay còn thiếu khoảng hơn 4 triệu bác sỹ, y tá, hộ sinh và nhân viên y tế khác [27].2 Thực trạng nguồn nhân lựcy tế tại Việt Nam Nhân lực y tế Việt Nam trong những năm gần đây đã có một số thành tựu đáng ghi nhận. Theo báo cáo tổng quan chung của Ngành Y tế năm 2009, trong vòng 5 năm gần đây, từ năm 2003-2008, tổng số cán bộ y tế tăng dần và đều đặn ở tất cả các loại hình. Tổng số cán bộ y tế tăng từ 241.524 dược sỹ đại học, 12.533 dược sỹ trung cấp, 67.943 hộ sinh, 882 lương y và 15.682 kỹ thuật viên [2].
về phân bổ nhân lực y tế theo tuyến vùng và lãnh thổ, nhìn chung cán bộ y tế của nhà nước đã có ở mọi nơi, kể cả miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo. Tuy nhiên, nhân lực y tế Việt Nam còn phải đổi diện với một số bất cập và thách thức như: Thiếu nhân lực y tế cho lĩnh vực khảm chữa bệnh Bảng 1.2: Thực trạng nhân lực y tế khu vực KCB tính theo giường bệnh ở các tuyến Làm việc theo giờ hành Làm việc theo ca • chính Hiện có Cần bổ Cần bổ sung Nhu câu Nhu cầu sung Trung ưong 19 400 21 420 2 021 27 640 8 240 Tuyến tỉnh 68 994 104 809 35 815 119 782 50 788 Tuyến huyện 52 574 61 953 9 199 74 561 21 747 Tổng nhu cầu 141 148 188 182 47 035 221 983 80 775 (Nguôn: Dự thảo quy hoạch phát triên nhân lực và hệ thông đào tạo y tê đên năm 2020) Định mức biên chế CBYT trong lĩnh vực khám chữa bệnh được tính theo 2 phương án: Làm việc theo giờ hành chính và làm việc theo ca (theo thông tư liên 8 tịch số 08/2007/TTLT-BYT-BNV, ngày 05/06/2007). Hiện nay ngành y tể đang áp dụng chế độ làm việc theo giờ hành chính. Nếu chuyển sang chế độ làm việc theo ca thì số CBYT ở các bệnh viện công lập sẽ cần tăng thêm khá nhiều [2].
Thiếu điều dirỡng, nhân lực y tế dự phòng làm việc trong khu vực y tế nhà niĩớc Tỷ sổ điều dưỡng và hộ sinh (gồm cả đại học, cao đẳng, trung cấp, sơ học) so với số bác sỹ là 1,6. sổ này thầp hơn so với quy hoạch của chính phủ yêu cầu tại các cơ sở khám chữa bệnh có 3,5 điều dưỡng/bác sỹ. số điều dưỡng và hộ sinh trên 1 vạn dân của Việt Nam là 9, thấp hơn so với các quốc gia trong vùng (trung bình của khu vực Đông Nam Á là 12,2 điều dưỡng và hộ sinh/10 000 dân và của Tây Thái Bình Dương là 12,9) [2], Tỷ lệ cán bộ bình quân trên một giường bệnh chung tăng từ 0,99/GB năm 2000 lên 1,16/GB năm 2003. Do biên chế bệnh viện thấp nên các bệnh viện hợp đồng thêm số nhân lực là 16.
Trong số này y tá - điều dưỡng 7682 (45%), hộ lý 4200 (25%), bác sĩ - dược sỹ 1694 (10%). Theo nghiên cứu của Hội điều dưỡng Việt Nam về nguồn nhân lực điều dưỡng - hộ sinh giai đoạn 1986-2000 cho thấy một số chỉ tiêu nhân lực điều dưỡng - hộ sinh trong giai đoạn nói trên chẳng những không tăng mà còn giảm. Ví dụ: Tỷ lệ cán bộ y tế/10.000 dân giảm từ 32/10.000 trong giai đoạn nghiên cứu. số lượng Điều dưỡng - Hộ sinh giảm từ 97.
Như vậy, thiếu điều dưỡng là tình trạng phổ biến trong hầu hết các bệnh viện. Thực tế mới có đủ y tá để thực hiện y lệnh điều trị và theo dõi. Còn khoảng cách xa về biên chế để thực hiện chăm sóc toàn diện. Dựa trên tình hình đó, Phạm Đức Mục và cộng sự đã tiến hành điều tra nguồn nhân lực điều dưỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên và các hộ lý các bệnh viện Việt Nam năm 2003.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, Điều dưỡng chiếm tỷ lệ cao nhất trong số các CBYT trong bệnh viện (27,4%) sau đó lần lượt là Bác sĩ 22,04%, Hộ sinh là 5,21% và Kỹ thuật viên là 6,11%. Tỷ lệ Bác sĩ/Điều dưỡng là 1/1,24, BS/Điều dưỡng & Hộ sinh là 1/1,48. Trong đó tỷ lệ Bác sĩ/Điều dưỡng ở các Bệnh 9 viện tuyến TW chiếm đạt tỷ lệ cao nhất 1/1,44 và Bác sĩ/Điều dưỡng & Hộ sinh là 1/1,54. Điều dưỡng, Hộ sinh và Kỹ thuật viên chủ yếu tập trung ở tuyến tỉnh/Tp (50,9%) và tuyến quận/huyện (30,5%).
Điều dưỡng chiếm tỳ lệ 70,8%, Hộ sinh 13,4% và KTVlà 15,8% [7]. Bên cạnh việc thiểu cán bộ điều dưỡng, theo định mức biên chế hiện nay, cán bộ cho trung tâm y tế quận/huyện rất thiếu. 90% quận/huyện còn thiểu, có đơn vị thiếu trên 30 người. Neu ước tính mỗi quận/huyện cần thêm 5 người thì cả nước thiếu khoảng 3.400 người cho y tế dự phòng [2].
- Phân bô nhân lực còn không đổng đều về địa lý và cơ sởy tế Hiện nay, số cán bộ y tế trong cả nước đã đạt 34,7 cán bộ/1 vạn dân và 6,5 bác sĩ/1 vạn dân. Đây là một tỷ lệ không đển nỗi quá thấp so với nhiều nước trong khu vực nhưng với các vùng trong cả nước lại đang có sự mất cân đối trầm trọng. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có số cán bộ y tể thấp nhất, khoảng 22,8 cán bộ y tế/1 vạn dân [2], Bên cạnh đó, có sự khác nhau lớn về trình độ chuyên môn giữa các tuyến. Năm 2008, số lượng cán bộ tuyến trung ương là 38.578 chiếm 15% tổng số CBYT khu vực công, tuyến tỉnh với 97.906 cán bộ chiếm tỷ lệ cao nhất là 37%, tuyến huyện có 73.345 cán bộ, tương ứng với 29%.
Ngoài ra, số lượng CBYT tập trung nhiều ở tuyến trung ương, tỉnh, chủ yếu ở khu vực thành thị [2]. Hiện nay, đang có những mâu thuẫn rất lớn giữa nhu cầu chăm sóc sức khỏe (CSSK) của nhân dân đòi hỏi cả về số lượng và chuẩn mực chăm sóc ngày càng cao với nguồn nhân lực điều dưỡng - hộ sinh rất hạn hẹp. Những bất hợp lý về cơ cấu, số lượng, chất lượng và tỷ lệ giữa các bộ phận của ngành y tế đang cản trở đến việc triển khai thực hiện các văn bản của Bộ Y tế về chăm sóc người bệnh toàn diện trên phạm vi toàn quốc. Các Quy định của Nhà nước tại Quyết định 07 UB/ LĐTL, ngày 3/1/1975 của UBKHNN về tỷ lệ bác sĩ/điều dưỡng - hộ sinh là 2.5 vẫn chưa được thực hiện đúng.
Quản lý nguồn nhân lực y tế Ỉ. Định nghĩa Theo Tổ chức Y tế Thế giới Khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO), quản lý nguồn nhân lực là một quá trình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo ràng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bổ nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Các giải pháp nâng cao chất lượng nhân lực y tế Giải pháp về nâng cao chất lượng nhân lựcy tế: - Đẩy mạnh các hình thức đào tạo liên tục, đào tạo ngắn hạn - Nâng cao chất lượng đào tạo của các trường - Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ y tế chuyên sâu và nhân tài Nâng cao hiệu quả sử dụng nhãn lực ở các cơ sở y tế: - Nâng cao năng lực cán bộ quản lý - Áp dụng các biện pháp có hiệu quả để quản lý nhân lực ở các cơ sở y tế 1. Chiến lược nâng cao hiệu suất nguồn nhân lực hiện có / Nguồn vào: \ / Chuẩn bị nguồn \ nhân lực \ Kế hoạch Đào tạo Hiệu suất nguồn Nguồn nhân lực: Tuyển dụng Tăng hiệu suất lao Năng lực Nhiệt tình Năng suất Quản lý sự tiêu hao nhân lực Di cư Chọn nghề khác Sức khỏe và an toàn Nghỉ hưu 11 Hĩnh 1.1: Những chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp[.] Chiến lược tăng cường tuổi thọ nghề nghiệp và năng suất lao động đối với lực lượng lao động y tế bao gồm: ■ Nguồn vào: Chuẩn bị nguồn lực lao động thông qua đầu tư chiến lược trong đào tạo và thực hiện tuyển dụng hiệu quả và hợp lý.
■ Lực lượng lao động: Tăng cường hiệu suất lao động thông qua quản lý tốt hơn nguồn lực lao động ở cả khu vực công và khu vực tư nhân.