chương 1, tác giả trình bày những nội dung chính khái quát của đề tài liên quan đến chất lượng dịch vụ hành chính công tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai, từ đó làm tiền đề để đi sâu hơn vào mô hình nghiên cứu, làm cơ sở cho các chương tiếp theo của luận văn. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về sự hài lòng 2.1 Khái niệm Sự hài lòng có nhiều cách hiểu khác nhau. Nói một cách đơn giản, sự hài lòng là một cách cảm nhận của khách hàng đối với đơn vị cung cấp dịch vụ sau khi sử dụng dịch vụ đó (Levesque & McDougall, 1996). Hay nói cách khác, sự hài lòng của khách hàng là mức độ trạng thái cảm giác của khách hàng được tạo ra bằng cách so sánh kết quả thu được của một sản phẩm hoặc dịch vụ đem lại so với mong đợi của khách hàng đó.
Khách hàng có thể có những mức độ hài lòng khác nhau: - Nếu sản phẩm và dịch vụ kém hiệu quả hơn mong đợi, khách hàng sẽ không hài lòng, không hài lòng. - Nếu hiệu quả sản phẩm dịch vụ khớp với các kỳ vọng khách hàng sẽ hài lòng. - Khách hàng rất hài lòng và thích thú khi một sản phẩm hoặc dịch vụ hoạt động tốt hơn mong đợi. Nói tóm lại sự hài lòng của khách hàng nói lên sự thỏa mãn của khách hàng khi họ khi họ sử dụng dịch vụ.
Theo Parasuraman và cộng sự (1988) cho rằng sự hài lòng của khách hàng là phản ứng về sự khác biệt cảm nhận giữa kinh nghiệm đã biết và sự mong đợi của khách hàng về dịch vụ. Còn theo Oliver, sự hài lòng là phản ứng của khách hàng đối với việc được đáp ứng những mong muốn. Định nghĩa này có hàm ý rằng sự thỏa mãn chính là sự hài lòng của khách hàng trong việc sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ đó, nó đáp ứng những mong muốn của họ, bao gồm cả mức độ đáp ứng trên mức mong muốn và dưới mức mong muốn. Theo Tse và Wilton, sự hài lòng là sự phản ứng của khách hàng đối với việc ước lượng sự khác nhau giữa mong muốn trước đó và sự thể hiện thực sự của sản phẩm như là sự chấp nhận sau khi sử dụng nó.
Dù theo cách hiểu nào thì sự hài lòng chính là sự so sánh giữa lợi ích nhận thấy thực tế so với những kỳ vọng đặt ra. Khách hàng sẽ thất vọng nếu lợi ích thực tế 7 không như kỳ vọng, sẽ hài lòng nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng, còn nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng thì sự hài lòng sẽ cao hơn và vượt quá mong đợi.2 Vai trò Sự hài lòng của khách hàng có vai trò rất quan trọng và mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là có được sự hài lòng đó. Một công ty sẽ tăng trưởng và tăng doanh thu nếu họ ưu tiên sự hài lòng của khách hàng, còn công ty nào không ưu tiên thì sẽ rất khó khăn để tăng trưởng. Doanh nghiệp sẽ phát triển dễ dàng hơn khi có được sự hài lòng của khách hàng.3 Sự hài lòng của người nộp thuế Đối với ngành thuế, người nộp thuế là “khách hàng” và cơ quan thuế là “đơn vị cung ứng dịch vụ”.
Mục tiêu của cơ quan thuế là không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ, làm hài lòng của “khách hàng”, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật về thuế và tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ của mình.4 Các yếu tố thể hiện sự hài lòng của người nộp thuế Nhận thức chất lượng dịch vụ là kết quả của khoảng cách giữa dịch vụ mong đợi và dịch vụ cảm nhận, và sự hài lòng cũng là sự so sánh hai giá trị này Người nộp thuế được coi là hài lòng khi khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ mong đợi và cảm nhận thu hẹp lại bằng không. Tác giả đã ứng dụng phương pháp đánh giá chất lượng dịch vụ của Parasuraman để đo lường mức độ hài lòng của người nộp thuế đối với chất lượng dịch vụ của ngành thuế, từ đó xác định được 5 nhân tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người nộp thuế bao gồm: phương tiện hữu hình, mức độ đáp ứng, sự đồng cảm, độ tin cậy, năng lực phục vụ. 5 nhân tố trên phản ánh sự hài lòng của người nộp thuế một cách rõ ràng và khách quan, từ đó có cơ sở đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ của Cục Thuế Đồng Nai. Các yếu tố thể hiện sự hài lòng của người nộp thuế bao gồm: 1) Tính hữu hình Cơ sở vật chất, thiết bị, nhân viên và các phương tiện hỗ trợ dịch vụ.
- Các trang trang thiết bị công ty sử dụng có giúp gia tăng trải nghiệm dịch vụ so với các doanh nghiệp khác không? - Tổng quan về bài trí, màu sắc, nội thất tại địa điểm cung cấp dịch vụ có tạo cảm giác đồng nhất và nâng cao trải nghiệm cho khách hàng? 8 - Nhân viên có mặc đúng đồng phục, gọn gàng, trang nhã, lịch sự tiếp đón theo đúng chuẩn mực được quy định. - Tờ rơi và các bài giới thiệu có thể hiện hấp dẫn, đúng theo thiết kế đã định sẵn? 2) Độ tin cậy Khả năng thực hiện đúng những gì đã hứa, hoặc những gì khách hàng kỳ vọng vào dịch vụ thông qua những hoạt động động truyền thông của doanh nghiệp. Cụ thể: - Dịch vụ có được thực hiện đúng thời gian đã định trước. - Công ty có hỗ trợ nhiệt tình khi gặp sự cố? - Công ty có thực hiện dịch vụ đúng cam kết ngay lần đầu tiên? - Công ty có kiểm tra để tránh sai sót trong quá trình thực hiện dịch vụ? 3) Khả năng đáp ứng Cho biết công ty có khả năng phản ứng đủ nhanh và linh hoạt khi cần thiết hay không.
- Công ty có thể ước lượng và đưa ra khoảng thời gian cụ thể thực hiện một hoạt động bất thường nào đó, ví dụ như khắc phục sự cố, hay bảo hành định kỳ cho khách hàng? - Hoạt động đó có được thực hiện nhanh chóng, tiết kiệm thời gian cho khách hàng? - Nhân viên công ty có bao giờ quá bận rộn đến nỗi không đáp ứng được yêu cầu? 4) Năng lực phục vụ Khả năng nhân viên của doanh nghiệp tạo niềm tin cho khách hàng thông qua tiếp xúc (Về kiến thức, kỹ năng, trình độ chuyên môn) - Hành vi của nhân viên công ty khiến khách hàng tin tưởng. - Nhân viên công ty thể hiện thái đô lịch sự, niềm nở. - Nhân viên công ty có đủ kiến thức chuyên môn để trả lời các câu hỏi. 5) Sự cảm thông Là sự quan tâm chăm sóc và dịch vụ của một công ty dành cho từng khách hàng.5 Các mô hình nghiên cứu sự hài lòng của người nộp thuế Dựa trên lý thuyết về tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ công, kết hợp với mô hình chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng của Parasuraman, mô hình 9 phương án đánh giá sự hài lòng về dịch vụ hành chính công của công dân và tổ chức của Lê Dân (2011) và ý kiến của các chuyên gia ngành thuế, tác giả đề xuất mô hình đánh giá mức độ hài lòng của NNT đối với chất lượng dịch vụ tại Cục Thuế tỉnh Đồng Nai như sau: − Độ tin cậy: là khả năng thực hiện các dịch vụ phù hợp và chính xác với những gì đã cam kết với NNT như: giải quyết công việc kịp thời, đầy đủ, chính xác và hợp pháp; tạo được sự an tâm cho NNT bằng việc giải quyết vướng mắc, tư vấn thuế, dịch vụ cung cấp thông tin cảnh báo cho NNT.
− Phương tiện hữu hình (Cơ sở vật chất): bao gồm nhà cửa, các trang thiết bị, công cụ thông tin và các phương tiện kỹ thuật khác. − Sự đồng cảm: thấu hiểu và quan tâm chia sẻ những thông tin cần thiết cho NNT như: tạo điều kiện tốt nhất cho NNT, có những lời khuyên tốt khi NNT cần tư vấn, quan tâm tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của NNT. − Năng lực phục vụ: thể hiện năng lực chuyên môn, nghiệp vụ, phong cách phục vụ lịch sự, chu đáo của cán bộ thuế như có kiến thức chuyên môn, phong cách làm việc lịch sự, chu đáo, giải quyết các thủ tục hành chính nhanh chóng. − Mức độ đáp ứng: đó là mức độ mong muốn và sẵn sàng phục vụ của cán bộ thuế như: tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ đúng hạn, đáp ứng nhanh các yêu cầu của NNT, tiếp đón tận tình, sẵn sàng hỗ trợ NNT, công khai các chính sách thuế mới và đưa ra các thông tin cảnh báo mới cho NNT.2 Khái niệm về chất lượng dịch vụ 2.1 Khái niệm chất lượng dịch vụ Theo Zeithaml (2000) giải thích chất lượng dịch vụ là sự đánh giá của khách hàng về tính ưu việt của một dịch vụ.
Nó là một dạng của thái độ và các hệ quả từ sự so sánh giữa những gì được mong đợi và nhận thức về những khách hàng nhận được. Theo Wismiewski và Donnelly (2001) chất lượng dịch vụ được định nghĩa bằng nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu, nó thể hiện mức độ mà một dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng. Việc cung cấp các dịch vụ công không phải là đặc quyền của Nhà nước mang lại cho xã hội mà nó mang tính chất pháp lý. Các dịch vụ công sẽ được đánh giá dựa 10 trên tiêu chí quan trọng là tiisnh hiệu quả trong việc cung cấp các dịch vụ, đáp ứng nhu cầu của mọi công dân trong xã hội.
Khác với khách hàng trong các dịch vụ tư, người nộp thuế (NNT) không được lựa chọn đơn vị cung cấp dịch vụ về thuế bởi theo sự phân công quản lý, họ chỉ có thể nhận các dịch vụ hành chính công từ phía cơ quan quản lý thuế trực tiếp của mình. Dịch vụ nhận được xứng đáng với số tiền thuế đã đóng góp sẽ khiến người nộp thuế cảm thấy hài lòng và gắn bó hơn với nơi kinh doanh mà tại đó cơ quan thuế trực tiếp đã cung cấp những dịch vụ hành chính công tốt nhất. Giữ chân được người nộp thuế, giúp họ phát triển chính là đảm bảo được nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước, giúp kinh tế - xã hội tại địa phương phát triển, đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế.