Tổng quan luận án

Công nghiệp chế biến thủy sản tại Việt Nam giữ vị trí mũi nhọn với định hướng kim ngạch xuất khẩu đạt mức 10 tỷ USD vào năm 2020. Trong chiến lược phát triển kinh tế biển gắn liền với bảo vệ chủ quyền biển đảo, công tác khai thác và bảo quản nguyên liệu thủy sản sau thu hoạch trên các tàu đánh bắt xa bờ đóng vai trò then chốt. Thực tế cho thấy các loài thủy sản như tôm, cá, mực sau khi đánh bắt rất dễ bị suy giảm chất lượng. Mặc dù quy chuẩn HACCP yêu cầu nguyên liệu phải được ướp đá duy trì nhiệt độ $\le 4^\circ\text{C}$, việc thiếu thốn trang thiết bị bảo quản lạnh trên tàu thuyền dẫn đến tình trạng ngư dân lạm dụng kháng sinh và các hóa chất độc hại như hàn the, urea, gây mất an toàn vệ sinh thực phẩm. Bên cạnh đó, hoạt động chế biến giáp xác thải ra lượng phế liệu đầu vỏ rất lớn, chiếm tới 45% khối lượng nguyên liệu, tương đương hơn 20 triệu tấn phế thải thủy sản mỗi năm trên toàn cầu (chiếm khoảng 25% tổng sản lượng chế biến).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án tập trung giải quyết là việc tìm kiếm giải pháp bảo quản sinh học tự nhiên, an toàn để thay thế hóa chất bảo quản độc hại, đồng thời tận dụng nguồn phế liệu đầu vỏ tôm. Các quy trình sản xuất chitin và chitosan truyền thống lạm dụng hóa chất vô cơ nồng độ cao ở nhiệt độ cao gây ô nhiễm môi trường và làm suy giảm phẩm chất polyme. Việc điều chế oligochitosan bằng phương pháp hóa học hay enzyme thông thường cũng tồn tại hạn chế về dư lượng acid, chi phí enzyme cao hoặc quy trình tinh sạch phức tạp. Do đó, luận án hướng tới việc thiết lập quy trình sinh học kết hợp trong sản xuất chitin, thực hiện deacetyl ở nhiệt độ thường, ứng dụng kỹ thuật chiếu xạ gamma Coban-60 để phân cắt mạch chitosan tạo oligochitosan, kiểm định độc tính in vivo và ứng dụng bảo quản tôm bạc biển.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể:

  • Mục tiêu chung: Nghiên cứu sản xuất chế phẩm oligochitosan có hoạt tính kháng khuẩn bằng công nghệ bức xạ Coban 60 và ứng dụng để kéo dài thời gian bảo quản nguyên liệu tôm bạc biển.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Sử dụng phương pháp sinh học phối hợp giữa vi khuẩn lactic và enzyme protease để khử protein và khoáng chất ở đầu vỏ tôm thẻ trong quá trình sản xuất chitin nhằm giảm thiểu hóa chất sử dụng trong quá trình này.
    2. Sản xuất chitosan có độ deacetyl cao bằng NaOH nồng độ cao trong điều kiện nhiệt độ thường để dễ dàng triển khai sản xuất ở quy mô lớn.
    3. Sản xuất được oligochitosan bằng công nghệ bức xạ Coban 60 và sử dụng oligochitosan sản xuất được trong bảo quản tôm biển.

Nội dung nghiên cứu của luận án gồm 4 phần:

  1. Nghiên cứu sử dụng phương pháp sinh học để khử protein và các tạp chất có trong đầu và vỏ tôm thẻ chân trắng trong sản xuất chitin.
  2. Nghiên cứu deacetyl chitin để sản xuất chitosan có độ deacetyl cao.
  3. Nghiên cứu sản xuất chế phẩm oligochitosan bằng kỹ thuật bức xạ Coban 60.
  4. Sử dụng oligochitosan trong bảo quản tôm bạc nguyên liệu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Phế liệu đầu vỏ tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei); tôm bạc biển nguyên liệu; chủng vi khuẩn Lactobacillus plantarum VTCC-B 431; enzyme thương phẩm Flavourzyme; các chủng vi khuẩn kiểm định hoạt tính kháng khuẩn (Escherichia coli O157:H7, Salmonella typhimurium, Bacillus subtilis, Listeria monocytogenes, Staphylococcus aureus); chuột lang thí nghiệm dùng thử nghiệm độc tính.
  • Phạm vi không gian: Trường Đại học Nha Trang, Viện Công nghệ Sinh học và Thực phẩm (Trường Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh) và Trung tâm chiếu xạ thuộc Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện trong khuôn khổ Đề tài Cấp Nhà nước KC07.02/11-15 (giai đoạn 2011 - 2015), hoàn thành và bảo vệ luận án năm 2018.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu của luận án hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về cấu trúc, phương pháp trích ly chitin, chuyển hóa chitosan, phân cắt oligochitosan và ứng dụng bảo quản thực phẩm:

  • Nguồn gốc và thành phần nguyên liệu: Lịch sử nghiên cứu ghi nhận Rouget xử lý chitin bằng kiềm đặc, Hoppe Seiler (1894) đặt tên cho chitosan. Các nghiên cứu định lượng thành phần vỏ giáp xác chỉ ra tỷ lệ chitin dao động từ 15% - 40%, protein 20% - 40%, canxi carbonat 20% - 50%. Tỷ lệ chitin và $\text{CaCO}_3$ thay đổi theo loài: Crangon sp. và Pandalus sp. chứa 17% - 40% chitin và 20% - 30% $\text{CaCO}_3$; Penaeus sp. chứa khoảng 40% chitin và 20% - 30% $\text{CaCO}_3$; Nephrops sp. và Homarus sp. chứa 60% - 75% chitin và 20% - 30% $\text{CaCO}_3$.
  • Phương pháp sản xuất chitin và chitosan:
    • Phương pháp hóa học truyền thống: Khử protein bằng $\text{NaOH}$ hoặc $\text{KOH}$ nồng độ 1% - 10% ở $10^\circ\text{C} - 100^\circ\text{C}$ (xử lý ở $100^\circ\text{C}$ trong 72 giờ gây cắt mạch polyme); khử khoáng bằng $\text{HCl}$ 0,5N - 2N, $\text{EDTA}$ hoặc acid hữu cơ (acid formic, acid acetic, acid lactic); tẩy màu bằng $\text{H}_2\text{O}_2$, $\text{NaOCl}$; deacetyl bằng $\text{NaOH}$ 40% - 50% ở nhiệt độ cao $\ge 100^\circ\text{C}$ hoặc ở điều kiện $15\text{ psi}/121^\circ\text{C}$ trong 30 phút.
    • Phương pháp sinh học: Shimahara K. (1988) dùng protease từ Pseudomonas maltophilia khử protein còn lại 1%; Wang S. và cộng sự dùng protease từ Bacillus sp. khử 73% protein sau 3 ngày; các enzyme thương mại như Alcalase, Chymotrypsin, Papain, Bromelain khử protein phế liệu tôm đạt tỷ lệ thu hồi đáng kể; Oh K. và cộng sự (2000, 2007) dùng Pseudomonas aeruginosa F722 kết hợp 10% glucose khử 92% khoáng và 63% protein; Rao M. và cộng sự (2000) dùng Lactobacillus plantarum kết hợp acid acetic/citric đạt hiệu suất khử protein 75% - 88% và khử khoáng 86% - 90%; các tác giả trong nước như Trần Thị Luyến, Vũ Ngọc Bội thử nghiệm enzyme protease và lên men vi khuẩn lactic.
  • Phương pháp sản xuất oligochitosan:
    • Phương pháp hóa học: Thủy phân bằng $\text{HNO}_2$, $\text{HF}$, $\text{HCl}$ đặc (Trần Thị Luyến và cs dùng $\text{HCl}$ 10M, tỷ lệ w/v 1/4 ở $40^\circ\text{C}$, nâng nhiệt $85^\circ\text{C}$ trong 2 phút, trung hòa $\text{NaOH}$ 50%, tủa cồn/methanol, sấy lạnh đạt hiệu suất 70%).
    • Phương pháp sinh học: Nguyen Anh Dzung và cộng sự (2007) dùng Chitosanase, Cellulase (0,4 U/ml trong 4 giờ) thu nhận oligochitosan phân đoạn B (độ trùng hợp 8 - 18) chiếm 40,8%; Trần Thị Luyến và cộng sự (2012) dùng Papain ($70^\circ\text{C}$, pH 5,5, 6 ngày đạt hiệu suất 97%) hoặc Hemicellulase ($37^\circ\text{C}$, pH 5,5, 5 ngày); Lê Thị Tưởng (2007) dùng Hemicellulase ở $37^\circ\text{C}$, pH 5 trong 5 giờ.
    • Phương pháp vật lý và bức xạ: Chiếu xạ gamma Co-60 phân cắt chitosan vẩy hoặc dung dịch. Các nghiên cứu của Nguyễn Quốc Hiến và cs (2000, 2012), Kang B. và cs (2007), El Sawy N. và cs (2010), Wasikiewicz, Czechowska Biskup xác định hiệu suất cắt mạch bức xạ $G_s$, khảo sát hiệu ứng đồng cắt mạch giữa $\text{H}_2\text{O}_2$ và tia gamma.
  • Ứng dụng bảo quản: Các công trình của Trần Thị Luyến và cs ghi nhận việc dùng oligochitosan bảo quản dứa (dung dịch 1%, giữ tươi 7 ngày ở $8^\circ\text{C} - 10^\circ\text{C}$), bảo quản cá ngân (dung dịch 1%, giữ tươi 36 giờ ở $8^\circ\text{C} - 10^\circ\text{C}$, kìm hãm tích lũy $\text{NH}_3$), bảo quản xúc xích (tỷ lệ 0,4% thay thế $\text{NaNO}_3$), bảo quản thịt tươi (dung dịch 2%, giữ tươi 5 ngày ở $8^\circ\text{C} - 10^\circ\text{C}$).

Vị trí của luận án: Luận án giải quyết tính liên hoàn từ khâu xử lý phế liệu bằng công nghệ sinh học sạch, tối ưu hóa quá trình deacetyl chitin thành chitosan ở nhiệt độ phòng, áp dụng bức xạ gamma Coban-60 phân cắt trực tiếp chitosan dạng vẩy khô không cần dùng hóa chất tủa và tinh sạch, đồng thời xác lập dữ liệu an toàn sinh học in vivo và thông số bảo quản tôm bạc biển.

Hướng tiếp cận Tác giả tiêu biểu Tác nhân sử dụng Ưu điểm ghi nhận Nhược điểm / Giới hạn
Khử protein & khoáng hóa học Fernandez Kim S. (2004) $\text{NaOH}$ 1-10%, $\text{HCl}$ 1-2N Tách triệt để, thời gian ngắn Ô nhiễm môi trường, cắt mạch polymer
Lên men vi sinh vật Rao M. và cs (2000), Oh K. và cs (2007) L. plantarum, P. aeruginosa F722 Thân thiện môi trường, bảo vệ polymer Cần bổ sung xử lý phụ trợ
Thủy phân hóa học tạo oligochitosan Trần Thị Luyến và cs (2010) $\text{HCl}$ 10M, $\text{HNO}_2$, $\text{HF}$ Tốc độ nhanh, phản ứng triệt để Lượng acid dư lớn, quy trình làm sạch phức tạp
Thủy phân bằng enzyme Nguyen Anh Dzung và cs (2007) Chitosanase, Cellulase, Papain Điều kiện êm dịu, kiểm soát phân đoạn Chi phí enzyme cao, thời gian kéo dài
Phân cắt bằng bức xạ gamma Co-60 Nguyễn Quốc Hiến (2000), Luận án (2018) Tia bức xạ gamma Co-60 Không dùng hóa chất tủa, sản phẩm vô trùng Cần thiết bị nguồn chiếu xạ chuyên dụng

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án dựa trên các nguyên lý hóa sinh và vật lý bức xạ:

  • Cấu trúc polyme: Chitin là polysaccharide cấu tạo từ các đơn vị N-acetyl-D-glucosamine liên kết $\beta\text{-(1}\rightarrow\text{4)}$. Chitosan hình thành qua phản ứng deacetyl hóa, gồm các đơn vị D-glucosamine ($\ge 60%$) mang nhóm amin ($-\text{NH}_2$) tự do. Oligochitosan là chuỗi oligosaccharide mạch ngắn ($Mw < 10.000\text{ Da}$), có khả năng tan hoàn toàn trong nước ở pH trung tính.
  • Cơ chế sinh học: Vi khuẩn lactic (L. plantarum) lên men nguồn carbon (rỉ đường) sinh tổng hợp acid lactic, chuyển hóa canxi carbonat không tan thành calcium lactate tan, đồng thời tiết enzyme protease ngoại bào thủy phân liên kết protein-chitin.
  • Cơ chế cắt mạch bức xạ: Chiếu xạ gamma Coban-60 tác động lên chitosan tạo các gốc tự do nội phân tử. Các gốc hydroxyl ($\text{OH}^\bullet$) sinh ra tấn công bẻ gãy liên kết $\beta\text{-(1}\rightarrow\text{4)-glycoside}$, làm giảm khối lượng phân tử ($Mw$) và độ nhớt theo liều xạ hấp thụ $D\text{ (kGy)}$ mà không phá hủy cấu trúc vòng pyranose.
  • Cơ chế kháng khuẩn: Nhóm amin tích điện dương ($-\text{NH}_3^+$) của oligochitosan tương tác tĩnh điện với polyanion trên màng tế bào vi khuẩn (lipopolysaccharide, protein), làm biến đổi tính thấm màng sinh chất, ức chế quá trình phiên mã DNA và gây ngưng tụ tế bào.
  • Cơ chế biến đổi của tôm: Hiện tượng biến đen do hệ enzyme polyphenoloxidase (PPO) xúc tác oxy hóa tyrosine thành melanin; quá trình ươn hỏng do vi sinh vật hiếu khí phân giải protein thành các hợp chất bay hơi ($\text{NH}_3$, TMA).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Quy hoạch thực nghiệm 3 yếu tố theo mô hình Box - Behnken để tối ưu hóa quá trình lên men vi khuẩn lactic khử protein và khoáng; phương pháp bố trí thí nghiệm đơn yếu tố khảo sát nồng độ $\text{NaOH}$, thời gian deacetyl, liều chiếu xạ, nồng độ oligochitosan, thời gian nhúng và chế độ bao gói.
  • Phương pháp phân tích hóa học: Xác định hàm lượng ẩm, protein thô (Kjeldahl), khoáng tổng số (nung ở $550^\circ\text{C} - 600^\circ\text{C}$), lipid theo tiêu chuẩn AOAC và TCVN; xác định độ hòa tan của chitosan trong các dung dịch acid hữu cơ và vô cơ.
  • Phương pháp phân tích cấu trúc và hóa lý: Độ deacetyl (DD) xác định bằng quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR) và phổ cộng hưởng từ hạt nhân ($^1\text{H-NMR}$); khối lượng phân tử trung bình khối ($Mw$) và sự phân bố phân đoạn xác định bằng sắc ký gel thấm qua (GPC); đo độ nhớt bằng nhớt kế Ostwald tính toán theo phương trình Mark-Houwink-Sakurada.
  • Phương pháp vi sinh và hoạt tính sinh học: Hoạt độ protease xác định bằng phương pháp Anson cải tiến; thu nhận sinh khối L. plantarum VTCC-B 431 trên môi trường MRS; xác định nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) và đo đường kính vòng ức chế trên môi trường thạch BHI đối với 5 chủng vi khuẩn chỉ thị; đếm tổng số vi sinh vật hiếu khí trên mẫu tôm.
  • Phương pháp đánh giá chất lượng tôm: Định lượng hàm lượng nitơ base bay hơi tổng số ($\text{NH}_3$) bằng phương pháp chưng cất Kjeldahl; đo pH thịt tôm; xác định hoạt tính chống oxy hóa tổng bằng phương pháp quét gốc tự do DPPH; đánh giá cảm quan chất lượng tôm theo hệ thống phân điểm mô tả.
  • Phương pháp thử nghiệm độc tính học in vivo: Đánh giá độc tính cấp và giai đoạn phục hồi trên chuột lang theo hai nhóm thí nghiệm; theo dõi diễn biến khối lượng cơ thể; giải phẫu cân trọng lượng tươi nội quan (gan, lách, thận, dạ dày); xét nghiệm các chỉ số sinh hóa máu (huyết học), sinh hóa nước tiểu; làm tiêu bản vi thể cắt lát nhuộm hematoxylin-eosin quan sát cấu trúc mô học gan, lách, thận, dạ dày.
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Toàn bộ số liệu thực nghiệm được xử lý thống kê bằng phân tích phương sai (ANOVA) để so sánh ý nghĩa sự khác biệt ở mức xác suất tin cậy.

Nội dung chính theo từng chương

Mở đầu

Tác giả trình bày bối cảnh thực tiễn của ngành thủy sản Việt Nam, những hạn chế trong bảo quản nguyên liệu hải sản sau thu hoạch trên tàu cá đánh bắt xa bờ và nguy cơ mất an toàn thực phẩm do lạm dụng hóa chất bảo quản. Đặt vấn đề nghiên cứu sản xuất chế phẩm sinh học oligochitosan từ phụ phẩm đầu vỏ tôm thẻ chân trắng bằng công nghệ bức xạ Coban-60 và định hướng ứng dụng bảo quản tôm bạc biển tươi sống.

Chương I. Tổng quan tài liệu

Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý luận và các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Khái quát cấu trúc hóa học, tính chất lý hóa của chitin, chitosan và dẫn xuất oligochitosan; sự phụ thuộc của hoạt tính sinh học vào độ deacetyl hóa và khối lượng phân tử.
  • Tổng kết các phương pháp tách chiết chitin từ vỏ giáp xác (hóa học, enzyme protease thương phẩm, lên men lactic) và các công nghệ deacetyl hóa chuyển đổi chitin thành chitosan.
  • So sánh các phương pháp phân cắt chitosan tạo oligochitosan: hóa học (acid vô cơ, tác nhân oxy hóa), sinh học (enzyme Chitosanase, Cellulase, Papain) và phương pháp vật lý bức xạ gamma.
  • Cơ sở lý thuyết về biến đổi chất lượng tôm sau thu hoạch (biến đen, sinh $\text{NH}_3$, ươn hỏng vi sinh vật) và điểm lại các công trình ứng dụng oligochitosan trong bảo quản nông thủy sản (dứa, cá ngân, xúc xích, thịt tươi).

Chương II. Nguyên vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Tác giả mô tả chi tiết nguồn gốc nguyên vật liệu, hóa chất, chủng vi sinh vật và hệ thống phương pháp thực nghiệm:

  • Nguyên vật liệu: Đầu vỏ tôm thẻ chân trắng tươi thu gom tại cơ sở chế biến; tôm bạc biển thu nhận sau đánh bắt; chủng vi khuẩn lactic L. plantarum VTCC-B 431; chuột lang khỏe mạnh làm động vật mô hình.
  • Thiết kế hệ thống thí nghiệm: Sơ đồ khối nghiên cứu tổng quát; quy trình hoạt hóa vi khuẩn lactic; quy hoạch thực nghiệm Box - Behnken 3 yếu tố tối ưu hóa quá trình lên men; bố trí thí nghiệm deacetyl ở nhiệt độ phòng; quy trình chiếu xạ gamma Coban-60 tại Viện Nghiên cứu Hạt nhân Đà Lạt; phương pháp nhúng và bảo quản tôm lạnh.
  • Quy trình phân tích: Chi tiết các bước đo quang phổ FTIR, $^1\text{H-NMR}$, sắc ký GPC, đo độ nhớt, thử nghiệm MIC kháng khuẩn, xét nghiệm huyết học, sinh hóa nước tiểu và kỹ thuật cắt lát mô học nội quan chuột.

Chương III. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương III trình bày toàn bộ kết quả thực nghiệm của luận án qua các nội dung chính:

  1. Thành phần hóa học của phế liệu đầu vỏ tôm thẻ chân trắng: Hàm lượng ẩm chiếm $76,4%$; tính theo chất khô, hàm lượng protein đạt $39,2%$, khoáng chất chiếm $32,6%$, chitin đạt $21,8%$ và lipid chiếm $6,4%$.

  2. Nghiên cứu sản xuất chitin bằng phương pháp sinh học kết hợp:

  • Lên men bằng L. plantarum VTCC-B 431: Vi khuẩn được hoạt hóa trong 28 giờ, mật độ tế bào đạt $2 \times 10^9\text{ cfu/ml}$. Quy hoạch thực nghiệm Box - Behnken xác định các thông số tối ưu: tỷ lệ rỉ đường bổ sung $11,15%\text{ (w/w)}$, tỷ lệ dịch vi khuẩn bổ sung $11,20%\text{ (v/w)}$, thời gian lên men 6,19 ngày ở nhiệt độ phòng, tỷ lệ nước/nguyên liệu là 1/1, pH ban đầu 7,0. Quá trình lên men giúp khử phần lớn protein và khoáng chất.
  • Khử protein còn lại: Bổ sung enzyme Flavourzyme với tỷ lệ $0,06%$, thực hiện thủy phân ở nhiệt độ $50^\circ\text{C}$, pH 7,5 trong thời gian 8 giờ.
  • Khử khoáng còn lại: Xử lý bằng dung dịch $\text{HCl}$ 3% với tỷ lệ dung dịch/chitin thô là 2/1 ở nhiệt độ phòng trong 10 giờ.
  • Sản phẩm chitin thu được có độ tinh sạch cao, hàm lượng protein và khoáng còn lại đạt tiêu chuẩn kỹ thuật; chi phí nguyên vật liệu tính toán là 111.000 VNĐ/kg sản phẩm.
  1. Nghiên cứu quá trình deacetyl chitin tạo chitosan ở nhiệt độ phòng:
  • Khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch $\text{NaOH}$ (từ 30% đến 50%) và thời gian xử lý (từ 24 đến 144 giờ) ở nhiệt độ phòng ($28^\circ\text{C} - 30^\circ\text{C}$) với tỷ lệ dung dịch $\text{NaOH}$/chitin là 4/1.
  • Kết quả phổ FTIR và $^1\text{H-NMR}$ chứng minh khi xử lý bằng $\text{NaOH}$ 50% trong thời gian 120 giờ ở nhiệt độ phòng, sản phẩm chitosan thu được có độ deacetyl đạt trên 93%, hạn chế được hiện tượng cắt mạch polymer so với phương pháp gia nhiệt cao truyền thống. Chi phí nguyên vật liệu sản xuất chitosan đạt 361.000 VNĐ/kg.
  1. Nghiên cứu sản xuất oligochitosan bằng bức xạ gamma Coban-60:
  • Chitosan có độ deacetyl $>90%$ dạng vẩy khô được chiếu xạ trực tiếp bằng nguồn gamma Co-60 với các dải liều khác nhau.
  • Liều chiếu xạ tối ưu được xác định là 166 kGy. Ở liều xạ này, mạch chitosan bị bẻ gãy tạo thành hỗn hợp oligochitosan tan hoàn toàn trong nước, phân tách thành 3 phân đoạn rõ rệt qua sắc ký rây phân tử GPC.
  • Cấu trúc phân tử của oligochitosan được xác định qua phổ $^1\text{H-NMR}$ và FTIR gồm 13 monomer (độ trùng hợp $\text{DP} = 13$).
  1. Đánh giá hoạt tính kháng khuẩn của oligochitosan:
  • Thử nghiệm MIC và phương pháp khuếch tán đĩa thạch chứng minh oligochitosan có khả năng ức chế mạnh 5 chủng vi khuẩn kiểm nghiệm: Escherichia coli O157:H7, Salmonella typhimurium, Bacillus subtilis, Listeria monocytogenes và Staphylococcus aureus.
  1. Thử nghiệm độc tính in vivo trên chuột lang:
  • Thử nghiệm trên 2 nhóm chuột lang (Nhóm I đánh giá độc tính cấp, Nhóm II đánh giá giai đoạn hồi phục) cho thấy: chuột tăng trưởng khối lượng bình thường; các chỉ số sinh hóa máu và nước tiểu không có sai khác mang ý nghĩa thống kê so với lô đối chứng.
  • Khối lượng tươi và cấu trúc giải phẫu vi thể mô học của gan, thận, lách và dạ dày hoàn toàn bình thường, không xuất hiện tổn thương bệnh lý hay hoại tử mô. Kết quả khẳng định chế phẩm oligochitosan sản xuất bằng bức xạ Co-60 an toàn qua đường tiêu hóa.
  1. Ứng dụng oligochitosan bảo quản tôm bạc nguyên liệu:
  • Khảo sát nồng độ dung dịch oligochitosan (0,5%, 1,0%, 1,5%, 2,0%), thời gian nhúng (0,5 đến 3 phút) và chế độ bao gói bảo quản ở nhiệt độ $0^\circ\text{C} - 4^\circ\text{C}$.
  • Chế độ xử lý tối ưu: Nhúng tôm bạc nguyên liệu vào dung dịch oligochitosan 1% trong thời gian 1 phút, để ráo và bao gói kín bảo quản lạnh.
  • Sau 6 ngày bảo quản ở $0^\circ\text{C} - 4^\circ\text{C}$, tôm xử lý oligochitosan 1% duy trì điểm cảm quan tốt, ức chế quá trình sinh $\text{NH}_3$, duy trì pH ổn định, kìm hãm sự phát triển của tổng số vi sinh vật hiếu khí và giữ vững chất lượng đạt chuẩn làm nguyên liệu chế biến.
Công đoạn công nghệ Thông số kỹ thuật xác lập Chỉ tiêu chất lượng / Kết quả đạt được
Lên men khử protein, khoáng L. plantarum $11,2%$, rỉ đường $11,15%$, 6,19 ngày, nhiệt độ phòng Khử phần lớn khoáng và protein thô
Khử protein còn lại Flavourzyme $0,06%$, $50^\circ\text{C}$, pH 7,5, 8 giờ Protein còn lại $<1%$
Khử khoáng còn lại $\text{HCl}$ 3%, tỷ lệ dung dịch/chitin 2/1, 10 giờ, nhiệt độ phòng Khoáng còn lại $<0,5%$
Deacetyl tạo chitosan $\text{NaOH}$ 50%, tỷ lệ 4/1, 120 giờ, nhiệt độ phòng Độ deacetyl $>93%$
Cắt mạch tạo oligochitosan Chiếu xạ gamma Co-60 dạng vẩy, liều xạ 166 kGy Oligochitosan tan hoàn toàn, 13 monomer
Bảo quản tôm bạc biển Nhúng dung dịch oligochitosan 1% trong 1 phút, giữ lạnh $0-4^\circ\text{C}$ Kéo dài thời gian tươi tốt lên 6 ngày

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đúc kết 6 đóng góp mới về mặt khoa học và công nghệ thực tiễn:

  1. Xác định bộ thông số tối ưu cho quy trình sản xuất chitin bằng phương pháp sinh học kết hợp giữa lên men vi khuẩn lactic L. plantarum VTCC-B 431 ($2 \times 10^9\text{ cfu/ml}$, rỉ đường $11,15%$, dịch vi khuẩn $11,20%$, lên men 6,19 ngày ở nhiệt độ phòng) và enzyme Flavourzyme ($0,06%$, $50^\circ\text{C}$, pH 7,5 trong 8 giờ), kết hợp khử khoáng bằng $\text{HCl}$ 3% (10 giờ). Quy trình giảm thiểu hóa chất xả thải, tận thu phụ phẩm protein và astaxanthin phục vụ sản xuất thức ăn chăn nuôi, hạ giá thành nguyên vật liệu chitin xuống mức 111.000 VNĐ/kg.
  2. Xây dựng quy trình deacetyl chitin thành chitosan có độ deacetyl trên 90% (thực tế đạt $>93%$) bằng dung dịch $\text{NaOH}$ 50% ở nhiệt độ phòng trong 120 giờ (tỷ lệ 4/1), chi phí nguyên liệu 361.000 VNĐ/kg. Giải pháp thực hiện ở nhiệt độ thường giúp đơn giản hóa trang thiết bị, tiết kiệm năng lượng và dễ triển khai sản xuất quy mô lớn.
  3. Thiết lập quy trình sản xuất oligochitosan bằng phương pháp chiếu xạ gamma Coban-60 tác động trực tiếp lên chitosan dạng vẩy với liều hấp thụ 166 kGy. Sản phẩm thu được gồm 3 phân đoạn, tan hoàn toàn trong nước, có hoạt tính kháng 5 chủng vi khuẩn kiểm nghiệm (E. coli O157:H7, Salmonella typhimurium, B. subtilis, Listeria monocytogenes, S. aureus) mà không cần trải qua các bước kết tủa cồn, rửa và sấy phức tạp.
  4. Xác định cấu trúc hóa học phân tử của oligochitosan tạo thành từ phương pháp chiếu xạ gamma Co-60 gồm chuỗi 13 monomer (độ trùng hợp $\text{DP} = 13$).
  5. Cung cấp dữ liệu thực nghiệm đầu tiên về đánh giá an toàn độc tính học in vivo của chế phẩm oligochitosan chiếu xạ Co-60 trên chuột lang. Kết quả phân tích huyết học, sinh hóa nước tiểu và giải phẫu vi thể gan, thận, lách, dạ dày chứng minh chế phẩm không gây độc cấp và hoàn toàn an toàn qua đường tiêu hóa.
  6. Xây dựng hoàn thiện quy trình bảo quản tôm bạc biển nguyên liệu sau thu hoạch bằng kỹ thuật nhúng dung dịch oligochitosan 1% trong 1 phút, kết hợp bảo quản lạnh ở $0^\circ\text{C} - 4^\circ\text{C}$, giúp duy trì chất lượng nguyên liệu đạt chuẩn chế biến trong thời gian 6 ngày, góp phần hạn chế việc sử dụng hóa chất độc hại trong bảo quản thủy sản.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Kỹ thuật chiếu xạ cắt mạch đòi hỏi phải tiếp cận nguồn chiếu xạ công nghiệp gamma Coban-60 tập trung, yêu cầu quy chuẩn kiểm soát an toàn bức xạ nghiêm ngặt; cơ chế phân cắt mạch bức xạ mang tính ngẫu nhiên.
  • Toàn bộ các thử nghiệm sản xuất chitin sinh học, deacetyl nhiệt độ phòng và bảo quản nguyên liệu mới dừng lại ở quy mô phòng thí nghiệm và bán công nghiệp, chưa tiến hành thử nghiệm pilot tại các nhà máy chế biến quy mô lớn.
  • Thử nghiệm ứng dụng bảo quản mới giới hạn trên đối tượng tôm bạc biển ở điều kiện nhiệt độ lạnh mát ($0^\circ\text{C} - 4^\circ\text{C}$), chưa đánh giá trên các đối tượng hải sản khác hoặc các chế độ bảo quản kết hợp khác.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Hoàn thiện thiết kế dây chuyền thiết bị để triển khai thử nghiệm sản xuất chitin sinh học và chitosan ở quy mô pilot công nghiệp.
  • Mở rộng nghiên cứu ứng dụng chế phẩm oligochitosan trong bảo quản các đối tượng thủy sản có giá trị kinh tế khác như mực, cá ngừ và tôm thẻ chân trắng xuất khẩu.
  • Nghiên cứu kết hợp màng bao oligochitosan với các phụ gia tự nhiên khác hoặc công nghệ bao gói khí điều chỉnh (MAP) để kéo dài hơn nữa thời hạn bảo quản.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho nhiều đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên thuộc các chuyên ngành Công nghệ Chế biến Thủy sản, Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Sinh học và Kỹ thuật Bức xạ hạt nhân: Có thể tham khảo phương pháp quy hoạch thực nghiệm Box - Behnken, phương pháp phân tích hóa lý polyme ($^1\text{H-NMR}$, FTIR, GPC) và mô hình thử nghiệm độc tính học trên động vật.
  • Các doanh nghiệp chế biến phụ phẩm thủy sản và sản xuất hóa chất sinh học: Tham khảo trực tiếp quy trình sản xuất chitin sinh học thân thiện môi trường, kỹ thuật deacetyl ở nhiệt độ thường và công nghệ sản xuất oligochitosan bằng bức xạ Coban-60 nhằm tối ưu hóa chi phí sản xuất.
  • Cơ quan quản lý chất lượng và hoạch định chính sách an toàn thực phẩm: Nắm bắt cơ sở dữ liệu khoa học về tính an toàn của chế phẩm sinh học oligochitosan để xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật thay thế hóa chất cấm trong bảo quản thủy hải sản sau thu hoạch.

Câu hỏi thường gặp

  1. Quy trình sản xuất chitin bằng phương pháp sinh học kết hợp trong luận án có các thông số kỹ thuật tối ưu nào? Quá trình lên men sử dụng chủng Lactobacillus plantarum VTCC-B 431 hoạt hóa 28 giờ (mật độ $2 \times 10^9\text{ cfu/ml}$), bổ sung $11,15%\text{ (w/w)}$ rỉ đường và $11,20%\text{ (v/w)}$ dịch vi khuẩn, tỷ lệ nước/nguyên liệu là 1/1, lên men trong 6,19 ngày ở nhiệt độ phòng với pH ban đầu 7,0. Tiếp đó, protein còn lại được khử bằng enzyme Flavourzyme $0,06%$ ở $50^\circ\text{C}$, pH 7,5 trong 8 giờ. Khoáng còn lại được khử bằng dung dịch $\text{HCl}$ 3% (tỷ lệ 2/1) ở nhiệt độ phòng trong 10 giờ.

  2. Điểm khác biệt của kỹ thuật deacetyl chitin thành chitosan trong luận án so với phương pháp truyền thống là gì? Phương pháp truyền thống đòi hỏi gia nhiệt cao ($\ge 100^\circ\text{C}$) trong thời gian ngắn bằng kiềm đặc, dễ làm suy giảm khối lượng phân tử. Kỹ thuật của luận án thực hiện deacetyl chitin bằng dung dịch $\text{NaOH}$ 50% với tỷ lệ dung dịch/chitin là 4/1 ở điều kiện nhiệt độ thường trong thời gian 120 giờ, tạo ra sản phẩm chitosan có độ deacetyl cao trên 93%, cấu trúc polyme ít bị đứt gãy và tiết kiệm chi phí năng lượng.

  3. Liều chiếu xạ Coban-60 tối ưu để phân cắt chitosan tạo oligochitosan là bao nhiêu và cấu trúc phân tử thu được gồm bao nhiêu monomer? Liều chiếu xạ gamma Coban-60 tối ưu để phân cắt chitosan dạng vẩy khô là 166 kGy. Sản phẩm oligochitosan sau chiếu xạ tan hoàn toàn trong nước, phân tách thành 3 phân đoạn và có cấu trúc phân tử gồm 13 monomer (độ trùng hợp $\text{DP} = 13$).

  4. Hoạt tính kháng khuẩn của chế phẩm oligochitosan được kiểm chứng trên những chủng vi sinh vật nào? Chế phẩm oligochitosan có khả năng ức chế sinh trưởng rõ rệt đối với 5 chủng vi khuẩn kiểm nghiệm: Escherichia coli O157:H7, Salmonella typhimurium, Bacillus subtilis, Listeria monocytogenes và Staphylococcus aureus.

  5. Quy trình ứng dụng oligochitosan trong bảo quản tôm bạc biển được xác lập với chế độ như thế nào? Tôm bạc nguyên liệu sau thu hoạch được nhúng trong dung dịch oligochitosan nồng độ 1% trong thời gian 1 phút, sau đó để ráo, bao gói kín và bảo quản ở nhiệt độ $0^\circ\text{C} - 4^\circ\text{C}$. Phương pháp này giúp kéo dài thời gian bảo quản tôm đạt tiêu chuẩn chế biến lên đến 6 ngày.

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Vũ Thị Hoan đã giải quyết trọn vẹn chuỗi công nghệ từ việc tận dụng phụ phẩm đầu vỏ tôm để sản xuất chitin bằng phương pháp sinh học kết hợp, tối ưu hóa quá trình deacetyl ở nhiệt độ thường đạt độ deacetyl trên 93%, đến việc ứng dụng bức xạ gamma Coban-60 liều 166 kGy để tạo oligochitosan mạch 13 monomer có hoạt tính kháng khuẩn cao. Các thử nghiệm độc chất học in vivo trên chuột lang xác nhận tính an toàn tuyệt đối của chế phẩm qua đường tiêu hóa. Ứng dụng nhúng dung dịch oligochitosan 1% trong 1 phút đã chứng minh khả năng kéo dài thời gian bảo quản tôm bạc biển sau thu hoạch lên 6 ngày ở điều kiện lạnh mát, mở ra giải pháp công nghệ sinh học thiết thực thay thế hóa chất bảo quản độc hại trong ngành thủy sản.