MỞ ĐẦU Lao là nguyên nhân nhiễm trùng gây tử vong hàng đầu trên thế giới [23],[37],[47],[83]. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO) 2010 có 8,8 triệu trường hợp lao mới (13% đồng nhiễm với HIV) và 1,1 triệu người chết vì bệnh lao ở người HIV (-) và 0,35 triệu người chết ở người HIV (+) [105]. Tỷ lệ tử vong do lao chiếm 1/4 (25%) trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân khác cộng lại. Lao cũng là một trong hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ra tràn dịch màng phổi (TDMP) dịch tiết ưu thế lympho bào [6],[10],[15],[49].
Ở Việt Nam TDMP do lao đứng hàng đầu trong các bệnh lao ngoài phổi (chiếm 39,2% theo thống kê của Viện lao và bệnh phổi [17]. Việc chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi do lao ở Việt Nam cũng như trên thế giới đôi khi khó khăn và cần đặt ra ở bất kỳ bệnh nhân tràn dịch màng phổi dịch tiết nào. Chẩn đoán xác định được thực hiện qua kỹ thuật chọc dò màng phổi lấy dịch màng phổi đi phân tích về sinh hóa, tế bào, vi trùng, sinh thiết màng phổi lấy mẫu mô làm giải phẫu bệnh. Ở nước ngoài, xét nghiệm phân tích dịch màng phổi cho kết quả chẩn đoán cao nhờ sử dụng nhiều xét nghiệm tiên tiến về sinh hóa, tế bào, vi trùng trong dịch màng phổi.
Tuy nhiên, các xét nghiệm tế bào và vi trùng trong chẩn đoán lao có độ nhạy còn thấp. Sinh thiết màng phổi - một tiêu chuẩn vàng cho phép chẩn đoán xác định TDMP do lao thông qua sự tồn tại mô viêm lao đặc hiệu – tỉ lệ chẩn đoán dư ng tính vẫn còn thấp 56 – 82% [19], [21],[49],[59]. Tại Việt Nam, các xét nghiệm cần thiết chẩn đoán lao không đủ, hiệu quả chẩn đoán của phân tích dịch màng phổi còn thấp. Hiện nay, ở nước ta, AFB dư ng tính trong đàm là phư ng tiện thường nhất đ chẩn đoán tràn dịch màng phổi đi kèm với lao phổi.
Nếu AFB không được phát hiện, phần lớn các trường hợp TDMP do lao khác được chẩn đoán tại. 2 địa phư ng đ n thuần dựa vào đặc đi m tràn dịch màng phổi dịch tiết ưu thế lympho bào có kèm hoặc không với phản ứng lao tố dư ng tính mạnh. Ngoài các xét nghiệm thường qui cho lao, các xét nghiệm mới, tiên tiến đ chẩn đoán lao đa phần không phổ biến ngoại trừ ở các bệnh viện trung tâm khu vực. Vì vậy, rất nhiều bệnh nhân tràn dịch màng phổi dịch tiết ưu thế lympho bào đã được chẩn đoán và điều trị thử lao.
Mặc dù TDMP do lao có th tự giới hạn trong vài tháng mà không cần điều trị, việc chẩn đoán và điều trị sai có th làm bệnh diễn tiến nặng và biến chứng lao các c quan khác trong khoảng 65% trường hợp [17],[63],[88]. Điều trị thử không được khuyến cáo vì mang đến nhiều nguy c như: bỏ sót chẩn đoán khác, đặc biệt là ung thư; tốn kém tiền bạc và thời gian; tác dụng phụ thuốc kháng lao trên gan, thận, thần kinh ngoại biên, khớp., gây tâm l hoang mang lo l ng cho thân nhân và bệnh nhân. Vài dấu ấn sinh hóa đã được phát hiện gi p ích cho việc chẩn đoán TDMP do lao, bao gồm sự gia tăng các chất sau trong dịch màng phổi: Phosphatase kiềm, Adenosin deaminase (ADA), Interferon gamma (INF-γ), Lysozyme, Interleukin (IL)-12p40, IL-18, Immunosuppressive Acidic Protein (IAP), soluble IL-2 receptors (sIL-2Rs). Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy rằng nh ng dấu ấn này có giá trị trong chẩn đoán TDMP do lao.
Trong tình hình Việt Nam hiện nay, các c sở chưa trang bị được phòng xét nghiệm đủ tiêu chuẩn đ thực hiện kỹ thuật PCR lao, chưa làm được một số dấu ấn sinh hóa, chưa làm được sinh thiết màng phổi và/hoặc chưa đọc được tiêu bản giải phẫu bệnh mảnh mô màng phổi. Do đó, việc tìm kiếm một xét nghiệm mới, tiên tiến, chẩn đoán nhanh, ít xâm lấn, có độ nhạy và độ đặc hiệu biệt cao, tư ng đối rẻ tiền, dễ thực hiện, có th dùng rộng rãi ở tuyến c sở là hết sức cần thiết. Thêm vào đó, các xét nghiệm có giá trị chẩn đoán TDMP do lao cao hiện nay như ADA và INF-γ chưa được thực hiện rộng rãi. INF-γ chỉ thực hiện được.
3 trên hệ thống máy công nghệ cao ở một số bệnh viện lớn tuyến trung ư ng nên khả năng phổ biến rộng rãi xét nghiệm này là khó, ADA dù dễ thực hiện nhưng chưa được nghiên cứu và phổ biến rộng rãi, trong khi ALP và Lysozyme dù giá trị chẩn đoán TDMP do lao không cao bằng ADA và INFγ nhưng rẻ tiền, dễ thực hiện trên các máy xét nghiệm sinh hóa thông thường, có khả năng phổ biến được ở tuyến c sở. Với mục đích xác định dấu ấn sinh hóa nào h u ích h n trong chẩn đoán TDMP do lao gi a ALP, Lysozyme, ADA và INF-γ; và với giả thuyết có th gia tăng h n n a độ đặc hiệu và độ nhạy của từng xét nghiệm trong dịch màng phổi, cũng như gia tăng giá trị chẩn đoán khi kết hợp các xét nghiêm, đặc biệt là ALP và Lysozyme đ có th phổ biến rộng rãi ở tuyến c sở, ch ng tôi tiến hành đề tài này nhằm “Nghiên cứu giá trị của Phosphatase kiềm, Lysozyme, Adenosine deaminase và Interferon gamma trong chẩn đoán tràn dịch màng phổi do lao” với mục tiêu nghiên cứu: 1. Nhận xét về đặc đi m lâm sàng, cận lâm sàng của nhóm bệnh nhân được chẩn đoán cuối cùng là tràn dịch màng phổi do lao. Xác định giá trị chẩn đoán của từng xét nghiệm: Phosphatse kiềm dịch màng phổi (ALP DMP) và tỉ số ALP dịch màng phổi / huyết thanh (ALP DMP/HT), Lysozyme dịch màng phổi (Lys DMP) và tỉ số Lysozyme dịch màng phổi/ huyết thanh (Lys DMP/HT), Adenosine deaminase dịch màng phổi (ADA DMP) và Interferon gamma dịch màng phổi (INF-γ DMP) trong TDMP do lao.
Xác định giá trị chẩn đoán các phối hợp xét nghiệm: ALP, Lysozyme, ADA và INF-γ trong TDMP do lao. 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. ĐẠI CƢƠNG BỆNH LAO 1. Lịch sử lao Lao là một trong nh ng bệnh lâu đời nhất, ước đoán đã tồn tại từ 15.400 năm trước công nguyên, ngay từ l c hình thành và phát tri n loài người ở các nước có nền văn minh cổ lâu đời như các nước Trung Á, Ấn Độ, Ai Cập, Hy Lạp [23],[43],[44],[50].
Từ Thời Hypocrates (460 – 377 trước công nguyên) cho đến đầu thế kỷ 19, bệnh lao bị hi u lầm với một số bệnh khác đặc biệt là các bệnh ở phổi, người ta xem bệnh lao là một bệnh không ch a được và là một bệnh di truyền [23],[44]. Năm 1882 nhà bác học người Đức Robert Koch (1843 – 1910) phân lập được vi trùng lao từ mẫu đàm của bệnh nhân lao, chứng minh được lao là bệnh truyền nhiễm, xác định được nguyên nhân của bệnh lao là trực khuẩn, trực khuẩn này được gọi tên là Bacillus Koch viết t t là BK. Ông cũng đặt ra nguyên t c ki m soát bệnh lao trong cộng đồng bằng cách cách ly bệnh nhân xét nghiệm đàm dư ng tính với vi khuẩn lao [43],[76]. Cho đến nay, không một quốc gia nào, không một dân tộc nào lại không có người nhiễm lao, m c bệnh lao hay chết vì lao [23],[44].
Ở Việt Nam tài liệu từ thời An Dư ng Vư ng đã nói đến bệnh lao. Đến thời Tuệ Tỉnh ở thế kỷ 14 ông cho rằng hư lao không phải là một bệnh, mà bệnh diễn biến lâu ngày thành lao trùng. Hải Thượng Lãn Ông ở thế kỷ 18 nói ho lao là ho lâu ngày và bệnh lao là một bệnh truyền nhiễm. Dịch tễ học 1.
Bệnh lao trên thế giới Vào đầu thiên niên kỷ mới, lao vẫn còn là bệnh nhiễm trùng nghiêm trọng nhất, có nguy c cao nhất về số lượng người m c, số người nhiễm bệnh và số người tử vong bất chấp nổ lực ki m soát lao tích cực trong nhiều thập niên gần đây. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) [105], trong năm 2011, đã ước tính có 8,8 triệu trường hợp lao mới (13% đồng nhiễm với HIV) và 1,1 triệu người chết vì bệnh lao, tần suất m c lao mới trung bình toàn cầu là 125/100.000 dân, trong đó có gần một triệu người chết không nhiễm HIV và 350.000 chết có HIV dư ng tính. Tỉ lệ tử vong do lao chiếm 1/4 (25%) trong tổng số tử vong do mọi nguyên nhân khác cộng lại. Dịch tễ lao khác nhau rất nhiều khi so sánh hai khu vực các nước kinh tế phát tri n và các nước đang phát tri n.
Hầu hết các ước tính số trường hợp trong năm 2011 xảy ra ở châu Á (59%) và Châu Phi (26%); một tỷ lệ nhỏ bệnh lao xảy ra ở khu vực Đông Địa Trung Hải (7,7%), khu vực châu Âu (4,3%) và khu vực của Châu Mỹ (3%). Năm quốc gia có số lao mới m c cao nhất trong năm 2011 là Ấn Độ (2,0 - 2,5 triệu), Trung Quốc (0.1 triệu), Nam Phi (0,4 - 0,6 triệu), Indonesia (0.5 triệu) và Pakistan (0. Ấn Độ chiếm 26% và Trung Quốc chiếm 12% các trường hợp trên toàn cầu [105]. Bệnh lao ở Việt Nam Việt Nam xếp thứ 12 trong số 22 quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao nhất thế giới và thứ 14 trong 27 quốc gia có tình hình lao đa kháng và siêu kháng cao [2].
Năm 2014, toàn quốc đã phát hiện 102.070 bệnh nhân lao các th , tỉ lệ phát hiện là 111,35/100.934 bệnh nhân lao. So sánh với năm 2013, số bệnh nhân lao phổi mới phát hiện năm 2014 đã giảm 673 bệnh nhân; tỉ lệ điều trị khỏi bệnh nhân lao phổi AFB (+) đạt 89,93%. Tuy nhiên, bệnh lao vẫn xếp vào mức trung bình cao so với toàn cầu. Nguy c nhiễm lao hàng năm ở Việt Nam hiện nay là 1,7%, trong đó ở phía B c 1,2%, phía Nam 2,2%, khoảng 44% dân số bị nhiễm lao [2].
Lao cũng là một trong hai nguyên nhân thường gặp nhất gây ra TDMP dịch tiết ưu thế lympho bào. TDMP do lao đứng hàng đầu trong các bệnh lao ngoài phổi (chiếm 39,2% theo thống kê của Viện lao và bệnh phổi) [3],[17]. Theo Lê Kim Đức (2010) khi nghiên cứu thực trạng phát hiện và điều trị bệnh lao ở nông dân tại Bệnh viện Lao và Bệnh phổi Thanh Hóa, nhận thấy từ năm 2005 đến 2009, lao màng phổi chiếm tỉ lệ từ 47,5% đến 53,3% trong các th lao ngoài phổi. Với các số liệu trên, tình hình dịch tễ bệnh lao ở nước ta xếp vào loại trung bình cao ở khu vực Tây Thái Bình Dư ng, là khu vực có chỉ số tổng số bệnh nhân lao trung bình trên thế giới.
TRÀN DỊCH MÀNG PHỔI DO LAO 1.